Pages

Showing posts with label Văn học. Show all posts
Showing posts with label Văn học. Show all posts

Monday, July 29, 2013

Cuốn từ điển tiếng Việt trong túi của một du khách Mỹ

Tiếng Việt của chúng ta rất tinh tế và khó học. Muốn giỏi tiếng Việt không phải là chuyện dễ dàng, nếu không sống và giao tiếp với người Việt.
(Trích từ quyển sổ tay một du khách Mỹ đánh rơi trên bãi biển ở VN)
 
Cali Today News – Một thầy giáo đã gửi đến chúng tôi bài viết nhỏ này, và sau khi đọc xong, chúng tôi muốn chia xẻ đến với các bạn. Tiếng Việt của chúng ta rất tinh tế và khó học. Muốn giỏi tiếng Việt không phải là chuyện dễ dàng, nếu không sống và giao tiếp với người Việt. Bài “học” dưới đây của một người Mỹ là một ví dụ.
Photo courtesy: vietbao.vn 
 
- Ăn đi: Không có nghĩa là vừa ăn vừa đi mà chỉ nhắc nhở ai đó ăn mạnh vào.
- Ăn mặc: Không có ăn chi cả mà chỉ có mặc không thôi.
- Ăn nói: Cũng không ăn chi cả mà chỉ nói không thôi.
- Buồn cười: Không có buồn gì cả mà chỉ có cười không mà thôi.
- Cà lăm, Cà nhắc, Cà chớn, Cà khịa, Cà rịch, Cà tang: Không phải những loại Cà để ăn, mà những tật không hay của người ta.
- Đánh giày: Không phải là phang, đánh, đập, đá vào giày mà là "o bế ", làm đẹp cho giày.
- Đánh răng: Không phải là Đánh, Đập. . cho răng đau, mà dùng bàn chải và kem làm cho sạch răng mà thôi. 
- Đi cầu: Là đi vô toilet chứ không phải lái xe hay chạy qua cầu đâu. 
  
- Hai vợ chồng: Không có nghĩa là 2 vợ 1 chồng mà chỉ có 1 vợ 1 chồng thôi.
- Hai ông bà: Không có nghĩa là 2 ông 1 bà, mà chỉ có 1 ông 1 bà thôi.
- Làm thinh: Không có làm việc gì cả mà chỉ yên lặng, không nói năng chi hết.
- Làm biếng: Cũng không có làm chi hết mà chỉ chơi không mà thôi.
- La cà: không la rầy ai cả mà rề rà (?) ghé chỗ này chỗ kia.
- Làm răng (mần răng): Làm thế nào chứ không phải đi chữa răng đau đâu.
- Ngâm thơ: Không phải là đem lá thơ ngâm vô nước, mà là đọc... kéo từng chữ cho dài ra, cho người ta nghe hay hay.
- Nhà tôi: Không phải là cái nhà để ở mà NGƯỜI BẠN ĐỜI hay MỘT NỬA KIA... của mình.
- Nhà thơ, nhà văn, nhà báo: Không có nghĩa là nhà để chứa những bài thơ, bài văn hay báo chí, mà là chỉ người làm thơ, viết văn, viết báo...
- Ông Sui: Là ba mình gọi ba của vợ mình, chứ không có nghĩa là"Mr... Unlucky" đâu.
- Tục ngữ: Không phải là những lời thô tục, mà là những lời dạy dổ quý báu trong dân gian.
 

Friday, July 19, 2013

DẬY HỌC LÀM THƠ


 
TẠI SAO TA CẦN ĐỌC THƠ VÀ LÀM THƠ ?
 
 

Lá Phong chuyển màu vào thu
 
THƠ là một loại hình nghệ thuật của ngôn từ, âm thanh của thơ có vần có điệu nhịp nhàng. Lời lẽ của thơ ngắn gọn, hàm chứa, xúc tích. Một bài thơ hay có thể làm người đọc rung cảm bởi tiết tấu, bởi nội dung, bởi hình thức thể hiện.
 
 Giá trị nghệ thuật của Thơ làm người đọc vui thích vì cái hay, cái đẹp của ngôn từ. Đọc thơ hay, người đọc có xúc cảm nghệ thuật, cảm nhận được Cái Đẹp Tinh Thần, tạo thói quen nhận thức những giá trị tinh thần trong cuộc sống, dần loại bỏ khuynh hướng thực dụng, tôn vinh những giá trị vật chất đơn thuần, khiến con người sa đoạ trong vật chất. Có thể làm thơ hay, người sáng tác thơ dần làm phong phú tâm hồn mình bởi những quan sát, thấu hiểu để có thể phô diễn một cách biểu cảm, sâu sắc và tinh tế những tình huống, cảm xúc trước cuộc đời, từ đó dần nâng tâm hồn mình thăng hoa lên, trên nấc thang tiến hoá của sự sống.
 
Về hình thức, Thơ có nhiều thể loại, chúng ta có thể kể đến những loại thơ đã được biết đến như : Đường Luật (Thất Ngôn Bát Cú), Lục Bát, Song Thất Lục Bát, Thất Ngôn, Ngũ Ngôn, Tứ Tuyệt v.v..... Sau này chúng ta có thêm  Thơ Tự Do.
 
 
 
 
 
PHƯƠNG PHÁP LÀM CÁC LOẠI THƠ
 
Trước tiên chúng ta đề cập đến một loại hình khá phổ biến
 
 
 VĂN VẦN
 
Cần phân biệt Thơ với Văn Vần, vì văn vần chỉ đơn giản là những câu văn ngăn ngắn, được liên kết với nhau có vần, có điệu nhằm thể hiện một nội dung nào đó, mà không mang tính nghệ thuật như THƠ.
 
Ví dụ : Các bài văn vần dành cho trẻ em, ngắn gọn, vui vẻ, dễ nhớ
Hôm nay trời nắng chang chang
Mèo con  đi học chẳng mang thứ gì
Chỉ mang một cái bút chì
Và mang một mẩu bánh mì con con
 
Hoặc các bài Ca Dao như :
Bồng bồng cõng chồng đi chơi
Đi qua chỗ lội đánh rơi mất chồng
Chị em ơi cho tôi mượn cái gàu sồng
Để tôi tát nước vớt chồng tôi lên
 
Chúng ta thường gặp các loại bài văn vần như thế và không nên nhầm lẫn với Thơ
 
ĐƯỜNG LUẬT (THẤT NGÔN BÁT CÚ)
 
 
Đường Luật là một loại thơ cổ. Các thi sĩ Việt Nam ngày xưa thường hay sáng tác theo thể loại này.
Thơ Đường Luật  (Có tám câu, mỗi câu có bảy chữ ) tuân theo các quy định về luật Bằng Trắc , luật Đối Ngẫu và Vần, Nói chung là Niêm Luật.
 
·                  Luật Bằng Trắc
 
Bằng là những từ có dấu huyền và không dấu. Trắc là những từ có dấu sắc, hỏi, ngã, nặng.  Ký hiệu TrắcT, bằng là B.
Từ thứ hai của câu thứ nhất nếu là T, từ thứ bảy của câu thứ nhất là B, thì bài thơ là luật Trắc vần Bằng . Ngược lại, từ thứ hai của câu thứ nhất  là B, từ thứ bảy của câu thứ nhất là T, thì bài thơ là luật Bằng vần Trắc
Từ câu thứ hai đến câu thứ tám, tuân theo quy luật :
Nhất, tam , ngũ bất luận
Nhị, tứ, lục phân minh
Nghĩa là từ ở vị trí một, ba, năm không nhất thiết phải theo luật bằng trắc. Nhưng từ ở vị trí hai, bốn, sáu buộc phải theo luật cân đối bằng trắc ( Nếu từ ở giữa (số bốn) là Trắc thì hai từ ở vị trí số hai và sáu phải là Bằng (và ngược lại).
·            
 Luật Đối Ngẫu
Trong tám câu của bài thơ thì câu thứ ba và câu thứ tư, câu thứ năm và câu thứ sáu  đối nhau cả về hình thức lẫn nội dung.
 
·                     Vần
Vần gieo ở cuối các câu một, hai, bốn, sáu, tám  thì buộc phải cùng âm với nhau, hoặc na ná giống nhau. Cuối các câu ba, năm, bảy thì có thanh ngược lại. 
Thơ Đường có thể làm theo các loại : 
 
Luật Trắc vần Bằng 
 
  Đơn cử một bài thơ luật Trắc vần Bằng của Bà Huyên Thanh Quan
 
QUA ĐÈO NGANG 
Bước tới Đèo Ngang bóng xế
                                    T       T   B      B        T     T  B  
Cỏ cây chen đá lá chen hoa
B            T              B    B
Lom khom dưới núi, tiều vài chú
B                T                 B    T
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà
T              B               T     B
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
T             B              T      T
Thương nhà mỏi miệng cái da da
B           T                          B  B
Ngừng đây ngắm cảnh trời non nước
B              T                    B        T
Một mảnh tình riêng, ta với ta
T               B            T        B
 
Đối nhau về hình thức
 
Câu thứ ba và câu thứ tư
B B T T B B T
T T B B T T B
Câu thứ năm và câu thứ sáu
T T B B B T T
B B T T  T B B
 
Đối nhau về nội dung
 
Câu thứ ba và câu thứ tư
Lom khom đối với Lác đác, dưới núi đối với bên sông
Tiều vài chú đối với Chợ mấy nhà
Câu thứ năm và câu thứ sáu
Nhớ nước đối với Thương nhà, đau lòng đối với mỏi miệng
Con Quốc Quốc đối với Cái Gia Gia 
 
ĐÈO NGANG
 
Luật Bằng vần Bằng 
 
Ví dụ : Một bài thơ nổi tiếng của Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến  
THU ĐIẾU  
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
B   B    T      T    T      B      B 
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
       T                   B         T     B
Sóng biếc đưa làn hơi gợn
            T          B         T        T 
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
    B                T          B      B 
Tầng mây lơ lửng trời trong vắt
         B          T             B       T 
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
      T                B              T     B 
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
     T           B           T       T
Cá đâu đớp động dưới chân bèo
     B            T               B      B
 
Đối nhau về hình thức
Câu thứ ba và câu thứ tư
T T B B B T T
T B T T T B B
Câu thứ năm và câu thứ sáu
B B B T B B T
T T B B T T B
Đối nhau về nội dung
Câu thứ  ba và câu thứ tư
Sóng biếc đối với Lá vàng; đưa làn đối với trước gió
Hơi gợn tí  đối với  khẽ đưa vèo
Câu thứ năm và câu thứ sáu
Từng mây đối với Ngõ trúc; lơ lửng đối với quanh co
Trời trong vắt đối với Khách vắng teo
 
 
                                    NGUYỄN KHUYẾN CÂU CÁ 
 
Trong bố cục thơ Đường, hai câu đầu : Giới thiệu đề tài, bốn câu kế tiếp : triển khai nội dung, hai câu cuối : kết luận.
 
Thơ Đường Luật là một thể loại thơ khó làm và khó hay, bởi quy luật chặt chẽ về âm vận, ứng đối và bố cục một bài phải gói gọn trong tám câu. Thi sĩ nào dám chọn thể thơ này để làm là chấp nhận thử thách tài năng của mình, nếu thành công (sáng tác được một bài thơ hay) thì điều đó chứng tỏ được sự tài giỏi và tinh tế trong văn chương của họ.
 
 
THƠ LỤC BÁT
 
Thơ Lục Bát là thể thơ quy định hai câu liên tiếp một câu sáu chữ, một câu tám chữ và số câu thì không giới hạn. Thơ Lục Bát nổi tiếng bởi tác phẩm nổi tiếng thế giới “Đoạn Trường Tân Thanh” của Đại Thi Hào NGUYỄN DU. Thơ Lục Bát là một thể thơ rất dễ làm bởi luật thơ rất đơn giản và tự do. Do không quy định bắt buộc về số câu trong bài thơ, nên bố cục được “mở” cho người làm thơ. Ngoài ra, các âm bắt vần cho hai câu không bắt buộc phải khớp với nhau một cách chặt chẽ, bởi một âm na ná tương tự cũng có thể chấp nhận được.

     Nguyên tắc thơ lục bát      
 
Âm của chữ thứ 6 của câu số 6 vần với âm của chữ thứ 6 của câu số 8. Chữ thứ 8 của câu số 8 vần với chữ thứ 6 của câu thứ 6 tiếp theo. Chữ thứ 6 của câu thứ 8 tiếp theo vần với chữ thứ 6 của câu thứ 6 kế trên. Chữ thứ 8 của câu thứ 8 này vần với chữ thứ 6 của câu thứ 6 tiếp theo . v.v….
 
 Mô hình thơ lục bát như sau
 
          1   2   3   4   5   6
          1   2   3   4   5   6   7   8
          1   2   3   4   5   6
          1   2   3   4   5   6   7   8
          1   2   3   4   5   6
             1   2   3   4   5    6    7    8
 
Trích đoạn thơ Kim Vân Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh) của Nguyễn Du để minh hoạ thơ lục bát
 
    ….Đầu lòng hai ả Tố Nga
     Thuý Kiều là chị, em Thuý Vân     
     Mai cốt cách tuyết tinh thần
     Mỗi người một vẻ  mười phân vẹn mười
     Vân xem trang trọng khác vời
     Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
     ………
 
 
 
 
Qua đoạn thơ trên, chúng ta thấy âm vận trong thơ lục bát không quá khắt khe. Nếu khi thuận lợi cho ý thơ, có thể sử dụng âm vần nhau một cách chặt chẽ như : Nga, là – Vân, thần, phân. Nhưng cũng có thể sử dụng những âm tương tợ để hợp với ý câu, như : mười, vời, nở…
Thơ lục bát là thể loại thơ dễ làm, nhưng không vì thế mà nó kém giá trị sử dụng. Với tài văn chương của những thi sĩ hàng đầu, các tác giả vẫn có thể tạo nên những tác phẩm thơ tuyệt bút.
 
THƠ THẤT NGÔN
 
Thất Ngôn là thể loại Thơ  mỗi câu có bẩy chữ, số lượng câu không giới hạn. cách gieo vần trong thơ Thất Ngôn cũng rất đơn giản và “thoáng” có nghĩa là vần na ná tương tự cũng có thể chấp nhận được, miễn là đọc lên nghe xuôi tai, không chỏi  là được.
 
QUY LUẬT
 
 Hai câu đầu tiên  bắt buộc : Chữ cuối của câu thứ nhất vần với chữ cuối của câu thứ hai (thường là âm Bằng)
          Câu thứ ba, âm cuối  là vần Trắc .
Câu thứ tư, âm cuối là vần Bằng.
Sau đó cứ một câu vần Trắc lại một câu vần Bằng.
 
MÔ HÌNH THƠ THẤT NGÔN
 
1      2  3  4  5  6  7
1      2  3  4  5  6  7
1      2  3  4  5  6  7
1      2  3  4  5  6  7
1      2  3  4  5  6  7
1      2  3  4  5  6  7
1      2  3  4  5  6  7
 
Một bài thơ minh hoạ :
 
…Giải lụa nào hay áo em bay
Cho lòng ta bỗng ngất ngây say
Tình ơi, em đã bao nhiêu tuổi
Để nhớ để thương suốt tháng ngày
 
      Ai gõ vào tim từng tiếng đập
Cho hồn ta vỡ giấc mơ hoang
Em là Thiên Sứ đem ánh sáng
Từ thuở hồng hoang cõi địa đàng.
 
 
THƠ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT
 
Giống như thể loại thơ Thất Ngôn, nhưng  Thất Ngôn Tứ Tuyệt là thơ  chỉ có bốn  câu. Sự khác biệt của thể loại thơ này là bố cục bài thơ được gói gọn trong bốn câu, còn quy luật thì cũng giống như thơ Thất Ngôn.
Ví dụ một bài thơ thuộc thể loại này :
 
Vạn pháp phù du khéo huyễn bày
Vô thường cho đến cả cỏ cây
Trăng non đương độ rồi trăng khuyết
Trong mắt em
                             Ngàn năm mây bay
 
 
THƠ THẤT NGÔN& THẤT NGÔN TỨ TUYỆT
 
Đây là cách làm thơ phối hợp hai thể loại Thất Ngôn lại với nhau.
Ví dụ một bài thơ minh hoạ :


 
 
 
TR LI
 
Cho tôi trở lại mái chùa xưa
Với ngói rêu phong đã mấy mùa
Với cả hồ sen hương bát ngát
Với chiều tịch mịch tiếng chuông đưa
 
Cho tôi trở lại mái chùa xưa
Trở lại giòng sông mát bóng dừa
Trở lại đồi thông vang tiếng gió
Có rặng hoa vàng ngủ giữa trưa
 
Cho tôi trở lại mái chùa xưa
Dầu đã phong trần trải nắng mưa
Dẫu lớp sóng đời ô tuổi ngọc
Dẫu bao cay đắng nếm chưa vừa
 
Cho tôi trở lại ngày thơ ấu
Nhặt lá bên hiên quét cổng chùa
Tôi học bài kinh quên từ độ
Xuôi dòng thế tục nếm cay chua
 
Cho tôi trả lại Người – nhân thế  -  
Trả những oan khiên, những nợ nần
Trả những lợi danh và phú quý
Trả tình yêu lại kẻ Tình Chân
 
Cho tôi góp lại muôn lầm lỗi
Làm gói hành trang trở lại chùa
Cho tôi kính cẩn dâng Chư Phật
Lễ vật tâm thành đắt giá mua
 
Cho tôi xin được yên nghỉ mãi
Dưới rặng thông ngàn vướng vít mây
Cho hồn tôi quyện hồn cỏ dại
Thênh thang cánh gió hướng trời Tây.
  
Hai khổ thơ đầu của bài thơ làm theo thể Thất Ngôn Tứ Tuyệt các khổ thơ còn lại làm theo thể Thất Ngôn
 
 
THƠ SONG THẤT LỤC BÁT
 
Song Thất Lục Bát là loại thơ gồm hai câu bẩy chữ, một câu sáu và một câu tám chữ.  Mỗi khổ thơ có bốn câu như vậy và không hạn chế số khổ thơ .Quy luật và âm vận được phối hợp như sau :
 
1      2  3  4  5  6  7
1      2  3  4  5  6  7
1      2  3  4  5  6
1      2  3  4  5  6  7  8
 
Ví dụ hai khổ thơ minh hoạ :
 
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Nào ai gây dựng cho nên nỗi này
Trống trường thành lung lay bóng nguyệt
Khói cam tuyền mờ mịt thức mây
Bốn lần tên bắn trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh….
 
 
THƠ NGŨ NGÔN
 
Ngũ ngôn là thể loại thơ năm chữ,  không hạn chế số câu. Quy luật thơ như sau :
1   2   3   4   5
1   2   3   4   5
1   2   3   4   5
1   2   3   4   5
…………..
Chữ cuối của câu đầu là vần trắc, chữ cuối của câu tiếp theo là vần Bằng. Sau đó cứ một câu vần Trắc, một câu vần Bằng…
Ví dụ minh hoạ :
 
Mùa Vu Lan năm ngoái
Anh tặng đoá hoa tươi
Em cài lên áo mới
Như mang một nụ cười
 
Mùa Vu lan năm ấy
Hoa nở ngập đường vui
Em đi trên mộng ước
Như đi giữa giòng đời
 
Mùa Vu Lan năm ấy
Mắt mẹ vẫn sáng ngời
Như mặt trời rực rỡ
Cho mùa xuân em tươi ....
 
 
 
THƠ TỨ NGÔN
 
Thơ Tứ Ngôn là loại thơ bốn chữ. Giống như các loại thơ khác, mỗi khổ thơ gồm 4 câu , nhưng tuỳ theo bố cục bài thơ, ý thơ mà số câu nhiều ít khác nhau.
Chữ cuối các câu 2, 3, 6, 7,… là âm Bằng và vần với nhau. Chữ cuối các câu 1, 4, 5, 8, 9, …là vần Trắc.  Nói chung, từ câu thứ hai trở đi, cứ 2 câu âm Bằng lại kèm 2 câu âm Trắc…
 
Quy luật thơ bốn chữ :
1    2    3    4
1    2    3    4
1    2    3    4
1    2    3    4
1    2    3    4
1    2    3    4
1    2    3    4
1    2    3    4
 
Ví dụ minh hoạ
 
Trong phòng hương toả
Khói thuốc nhạt nhoà
Hương khói quyện hoà
Như ta quấn quýt
Anh là khói thuốc
Em thỏi hương trầm
Đôi ta phù vân
Cùng nhau chấp cánh.
 
 
 
THƠ LỤC NGÔN
 
Thơ lục ngôn là thơ sáu chữ. Quy luật thơ không khó lắm, nhưng làm theo thể loại này, thơ khó hay, trừ khi nhà thơ phải thật tài năng.
Luật thơ : Chữ cuối các câu 1 và các câu chẵn 2, 4, 6, 8…thuộc âm Bằng . câu lẻ 3, 5, 7,…thuộc âm Trắc. Chữ thứ tư của câu dưới thường vần với chữ thứ 6 của câu trên.
 
1      2  3  4  5  6
1      2  3  4  5  6
1      2  3  4  5  6
1      2  3  4  5  6
1      2  3  4  5  6
1      2  3  4  5  6
1      2  3  4  5  6  
1      2  3  4  5  6
 
 
Ví dụ minh hoạ :
 
  Tôi yêu, tôi yêu rất nhiều
Tôi yêu, yêu biết bao nhiêu
Tôi yêu tuổi thơ trong trắng
Tôi yêu ánh nắng mùa xuân
Tôi yêu chùm hoa hoang
Tôi yêu câu nói …ngại ngần
     
Tôi yêu trời xanh màu áo
Tôi yêu tiếng sáokhông
Tôi yêu giòng sông mây trắng
Tôi yêu một cánh diều say
Tôi yêu bàn tay thân ái
Tôi yêu một chiều mưa bay
 
 
THƠ BÁT NGÔN
 
Thơ bát ngôn là thơ tám chữ. Cách gieo vần cho thơ giống thơ Tứ ngôn như sau :
 
Chữ cuối các câu 2, 3, 6, 7,….âm Bằng, chữ cuối các câu 1, 4, 5, 8, 9…âm trắc .Nói chung, sau câu 2, 3, cứ cách 2 câu âm trắc lại là 2 câu âm bằng.
 
1   2   3   4   5   6   7   8
1   2   3   4   5   6   7   8
1   2   3   4   5   6   7   8
1   2   3   4   5   6   7   8
1   2   3   4   5   6   7   8
1   2   3   4   5   6   7   8
1   2   3   4   5   6   7   8
1   2   3   4   5   6   7   8
 
Ví dụ minh hoạ
 
…..Tình như gió bắt đầu cơn bão nổi
Tình như mây báo hiệu trận phong ba
Tình như men thiêu đốt suốt xương da
Tình nồng thắm mặn mà hoa đương độ
 
Gió đưa thuyền về bến sông kỳ ngộ
Đời đưa ta vào mê lộ tình yêu
Linh hồn ta nhắm mắt để bước liều
Không biết nữa Thiên Đường
                                                         Hay Địa Ngục
 
 
 
THƠ TỰ DO
 
Thơ tự do là thể loại thơ không quy định bắt buộc số chữ trong câu, số câu trong một bài, cũng không quy định âm luật cho bài thơ. Vì vậy, thơ tự do tuỳ thuộc vào sự gieo vần ngẫu hứng của tác giả.
Ngày nay , nhiều người tưởng mình làm “thơ tự do” nhưng thực ra chỉ là sự ghép nối những câu văn xuôi ngăn ngắn, bởi vì Thơ chỉ được gọi là Thơ khi đọc lên có vần có điệu, cho dù đó là thơ tự do đi nữa.
Ví dụ minh hoạ :
 
NẰM BÊN TRÁI
 
Anh có cái đầu
                     và một trái tim
Cái đầu ở giữa  nhưng trái tim không chịu nằm ở giữa
Cái đầu dùng công lý xét soi
                         nhưng trái tim có lý lẽ riêng của nó
Nó không cần sự biết điều hợp lý
Nó tự do như gió như mây,
                                   như cánh chim Hải Âu thênh thang trên những giải núi non       hùng vĩ
Có những khi cái đầu reo vui
                                    thì trái tim rên rỉ
Cái đầu nói đúng thì nó bảo sai, cái đầu muốn thôi
                thì nó bảo rằng cứ nữa
Ôi trái tim
nó che dấu bao nhiêu điều kỳ bí
Mà cái đầu không bao giờ hiểu được đến nơi
Chàng hoa tiêu ở trên phải nghe lệnh ông chủ điên cuồng ở dưới
Bởi vì khi cái đầu bóp nát trái tim
thì có nghĩa là nó theo nhau về nơi chín suối
Khi anh nói yêu em
đó là điều nghịch lý
Nhưng biết làm sao được
                                                 vì tim anh nằm bên trái
                     Em ơi !
 
 
 
Muốn làm thơ hay, các bạn phải có ý tưởng mới lạ, hoặc cái nhìn mới lạ về những sự vật, sự việc quen thuộc . Ngoài ra bạn phải có bố cục hay, tìm từ đắt giá.
 
Một bài thơ lý tưởng, là bài thơ làm cho người đọc có cảm xúc sâu sắc và ấn tượng khó phai với bài thơ đó.
Chúc các bạn thành công, sáng tác được những vần thơ tuyệt diệu .
 
 
 
                                     

Monday, November 19, 2012

GIA GIA, DA DA hay ĐA ĐA?

Cập nhật: 26/10/2009 - 5:41:58 PM


            Cái “gia gia” chẳng là… cái gì cả!



           Xin khẳng định ngay một cách dứt khoát rằng nếu viết với gi- thành “gia gia” thì “cái gia gia” sẽ là một cấu trúc hoàn toàn vô nghĩa. Các nhà có uy tín kia đã không biết, hoặc ít nhất cũng không để ý, rằng ba tiếng cuối của câu 5 (con X X) và ba tiếng cuối của câu 6 (cái Y Y) trong bài thơ tạo thành hai ngữ danh từ chỉ hai giống chim chứ hai tiếng cuối của mỗi câu (mà họ viết thành “quốc quốc” và “gia gia”) tuyệt đối không phải là những từ tượng thanh (onomatopoeia). Ở đây Bà Huyện nói về hai giống chim, như ai nấy đều có thể biết một cách hoàn toàn dễ dàng và tự nhiên: con trong câu 5 thì đau lòng vì nhớ nước còn con trong câu 6 thì mỏi miệng vì thương nhà. Vậy thì con trong câu 6 là con gì? Thưa đó là con đa đa và chính vì đây là con đa đa nên chúng tôi xin trả lời rằng nếu bất đắc dĩ phải chọn lựa giữa “gia gia” và “da da” thì chúng tôi sẽ chọn cách viết thứ hai vì những lý do sau đây:


Con cuốc


Con đa đa

Ngữ âm học lịch sử đã cho phép khẳng định rằng trong một số trường hợp nhất định thì Đ [d] và D[z] từng có chung một nguồn gốc (Xin x., chẳng hạn, Nguyễn Tài Cẩn, Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 1995, tr. 63; hoặc Lê Văn Quán, Nghiên cứu về chữ Nôm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1987, tr.105). Chính vì thế nên cho đến hiện nay, ta vẫn còn thấy được những lưu tích về mối tương ứng “ Đ ~ D ” giữa phương ngữ miền Bắc với phương ngữ miền Nam hoặc giữa phương ngữ Bắc Trung bộ với ngôn ngữ toàn dân. Cái đĩa ở miền Bắc là cái dĩa ở trong Nam; còn cây da ở trong Nam thì miền Bắc lại gọi là cây đa. Đặc biệt, cái bánh đa ở ngoài Bắc đã từng được gọi là bánh da ở trong Nam (còn bây giờ đã được thay bằng “bánh tráng”). Bằng chứng sớm nhất mà ta có thể có được về cách gọi này ở trong Nam là mục từ “bánh da” trong Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine, rồi sau đó là mục từ cùng tên, trong quyển từ điển cũng cùng tên (1838) của J.L. Taberd. Nhưng có lẽ lại càng đầy tính thuyết phục hơn nữa là cho đến 1895, Huình- Tịnh Paulus Của vẫn còn giảng trong Đại Nam quấc âm tự vị, tome I: “Bánh da: Bánh tráng.”
Trở lên là nói về mối quan hệ “ Đ (Bắc) ~ D (Nam)”. Còn về quan hệ giữa Đ của Bắc Trung bộ với D của tiếng Việt toàn dân thì ta cũng có thể tìm thấy trong Phương ngữ Bình Trị Thiên của Võ Xuân Trang (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997) rất nhiều dẫn chứng: - đa đẻ ~ da dẻ, - (màu) đà ~ (màu) dà, - đạ đày ~ dạ dày, - đám ~ dám (trong dám nghĩ dám làm), - đao ~ (con) dao, - đày ~ dày (trong dày mỏng),v.v..
Trở lại với mối tương ứng “ Đ (Bắc) ~ D (Nam)”, ta đã có “ đa (Bắc) ~ da (Nam)” đến hai lần, một lần với tên của một giống thực vật, một lần với tên của một loại thực phẩm. Nguồn gốc chung của hai cách phát âm này đã tồn tại trong Từ điển Việt – Bồ – La (Roma, 1651) của Alexandre de Rhodes. Trong quyển từ điển lấy tiếng Đàng Ngoài làm nền tảng này, cả da trong da thịt lẫn đa trong cây đa (của miền Bắc) đều được ghi là da. Vậy nếu mượn cách ghi của A. de Rhodes làm ký hiệu, ta có thể nói rằng trước 1651 thì, đối với những từ đang xét, tiền thân của Đ và D đều là DE. Chính vì mối quan hệ này giữa Đ và D nên chúng tôi mới chủ trương viết da da (chứ không phải “gia gia”) để ghi tên con đa đa, nếu bất đắc dĩ phải lựa chọn. Nhưng với chúng tôi thì chữ của Bà Huyện Thanh Quan cũng không phải “da da” mà hẳn hoi là đa đa. Và hai câu thơ đang xét trong bài Qua Đèo Ngang là:
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái đa đa.
Chúng tôi chủ trương như trên còn bà Nguyễn Thị Chân Quỳnh thì không tán thành nên đã viết trên Hồn Việt 18 (12-2008) như sau:
“Tôi không đồng ý vì tuy bà (Huyện Thanh Quan- AC) người miền Bắc nhưng chắc gì bà biết hết tên các loài chim để mà đổi “da da” thành “đa đa”, theo phát âm của người miền Bắc? Bà đi qua Đèo Ngang nghe tiếng chim hót thì hỏi dân địa phương, người ta bảo là “da da” thì bà gọi theo là “da da” chứ bà không biết quốc ngữ cũng không học ngôn ngữ học nên không thể biết “d” và “đ” cùng một gốc. Mặt khác, bà thành thạo làm thơ thất ngôn bát cú có đối chọi nên có thể đã “chơi chữ” với cách phát âm tên hai loài chim, “quốc” hay “cuốc”, “da” hay “gia” bà không phân biệt được.” (tr.61).
Xin trân trọng thưa lại với bà Chân Quỳnh như sau. Xưa nay, khắp nước Việt Nam, không có địa phương nào gọi con đa đa, còn có tên là gà gô, bằng cái tên “da da” cả. Từ điển Việt- Bồ- La (1651) của A. de Rhodes lấy tiếng miền Bắc làm nền tảng, Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine lấy tiếng miền Nam làm nền tảng, rồi phương ngữ Bắc Trung Bộ là nơi còn lưu giữ nhiều yếu tố cổ xưa, đều ghi hoặc gọi là đa đa. Tiếng Nguồn ở Quảng Bình, một ngôn ngữ cùng gốc (Việt-Mường) với tiếng Việt (Kinh), cũng gọi giống chim này là đa đa. Đây là một bằng chứng chắc chắn để phủ nhận hai tiếng/chữ “da da”. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai là ai cũng biết, tuy về hình thức, Qua Đèo Ngang có những câu thơ tả cảnh nhưng thực chất đây là một bài thơ trữ tình. Làm thơ trữ tình thì “rút gan rút ruột” ra mà làm chứ còn đợi đi hỏi ai. Điểm thứ ba là, không riêng gì Bà Huyện, mà cả ông bà ta ngày xưa nữa, tuy không biết chữ quốc ngữ, cũng không học “ngôn ngữ học”, nhưng vẫn có cách để phân biệt d- với gi-, d- với r-, ch- với tr-,v.v., trong khi sáng tạo chữ Nôm. Đó là ngôn ngữ học “tự nhiên nhi nhiên”của họ đấy! Điểm thứ tư là con cuốc cuốc và cái đa đa, theo cách hiểu và cách ghi của chúng tôi, cũng rất “đối chọi” theo đúng luật thơ Đường chứ đâu phải là không. Đối nhau chan chát ấy đi chứ! Và cuối cùng là tuy Bà Huyện có quyền “chơi chữ” nhưng bà không được quyền bóp méo từ ngữ: cái đa đa là cái đa đa, chứ dứt khoát không thể thành “cái da da”, càng không thể là “cái gia gia”.

Đèo Ngang

Tiếp theo ý kiến của bà Nguyễn Thị Chân Quỳnh, trên Hồn Việt 19 (01-2009), ta lại thấy xuất hiện ý kiến của ông Nguyễn Quảng Tuân với lời dẫn của ban biên tập: “Học giả An Chi (…) bằng vốn kiến thức ngữ học uyên bác của mình, đã bàn về gia gia- quốc quốc. Nhưng đây không phải là chuyện ngữ âm học lịch sử thuần tuý, mà là thơ, lại là thơ luật Đường… nên học giả Nguyễn Quảng Tuân đưa ra một cách tiếp cận khác.” Vậy đâu là “cách tiếp cận khác” của ông Nguyễn Quảng Tuân? Ông chẳng đưa ra cách tiếp cận nào khác của riêng mình cả. Ông chỉ dẫn ra ý kiến của Nguyễn Văn Ngọc trong Nam thi hợp tuyển và của Lý Văn Hùng trong Việt Nam văn chương trích diễm (Sài Gòn, 1961) rồi kết luận: “Chúng tôi nhận thấy, như mọi người từ trước đến nay, kể cả các vị có uy tín, đều cho rằng “quốc quốc” và “gia gia” chỉ là một cách chơi chữ thôi nên hai câu luận trong bài Qua Đèo Ngang tức cảnh của Bà Huyện Thanh Quan nên chép là:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
cho thích hợp với ý văn và phép đối trong câu thơ thất ngôn bát cú.”
Trở lên là “cách tiếp cận khác” của ông Nguyễn Quảng Tuân còn dưới đây là nhận xét của chúng tôi, trước nhất là về phần ông trích dẫn Lý Văn Hùng, đặc biệt là về lời dịch của họ Lý đối với hai câu thơ đang xét. Hai câu này đã được Lý Văn Hùng dịch thành:
Ưu quốc thương hoài hô quốc quốc
Ái gia quyện khẩu khiếu gia gia
Dụng ý của ông Nguyễn Quảng Tuân là dựa vào mấy tiếng “gia gia” của họ Lý để củng cố cho cách chép mà ông đưa ra trong phần kết luận. Nhưng ông đã nhầm. Hai cấu trúc con quốc quốc và cái gia gia (Xin cứ tạm chép như thế) trong lời thơ của Bà Huyện là những ngữ danh từ, trong đó quốc quốc và gia gia là danh từ (vì là tên của hai giống chim), còn hai cấu trúc hô quốc quốc và khiếu gia gia trong lời dịch của Lý Văn Hùng là những ngữ vị từ, trong đó quốc quốc và gia gia là từ tượng thanh. Hai bên đã khác nhau một trời một vực như thế mà ông lại muốn lấy hai tiếng tượng thanh gia gia để chứng minh cho sự đúng đắn(?) của danh từ “gia gia” trong câu thơ tiếng Việt sao được? Việc ông Nguyễn Quảng Tuân trích dẫn Lý Văn Hùng ở đây là một việc làm không thích hợp vì hoàn toàn không có tác dụng “làm chứng” cho hai tiếng “gia gia” (tiếng Việt) mà ông chủ trương.
Còn việc trích dẫn Nguyễn Văn Ngọc thì sao? Cũng chẳng có giá trị gì hơn vì tác giả này cũng chỉ diễn giảng trên cơ sở của hai tiếng “gia gia” là hai tiếng mà chính chúng tôi đang phản bác. Chỉ khi nào Nguyễn Văn Ngọc chứng minh được rằng “gia gia” là một cái tên có thật của một giống chim và là một hình thức chính tả chuẩn dùng để ghi cái tên đó thì chừng đó những lời diễn giảng của ông may ra mới có giá trị. Xin nói cho rõ thêm một chút nữa như sau. Chỉ khi nào chỉ với hình thức chính tả “gia gia” mà tác giả vừa chỉ được giống chim cần nói đến, lại vừa chỉ được khái niệm “nhà cửa”, “gia đình” thì chừng đó ta mới thực sự có hiện tượng chơi chữ. Đằng này… người ta phải bóp méo từ ngữ để cho có thể có được một cái âm với một cách ghi gợi lên cái ý “nhà” thì chơi chữ là chơi… như thế nào? Cách ghi méo mó này không có bất cứ lý do ngữ học và văn cảnh nào để tồn tại cả.Chẳng qua vì nó đã lưu hành ngót nghét hằng thế kỷ nên nhiều người mới không đành lòng gạt bỏ đó mà thôi. Nhưng cũng có người không cần biết đến nó mà cứ ghi thẳng hai chữ đa đa vào câu thơ của Bà Huyện, chẳng hạn GS Đỗ Quang- Vinh trên www.khoahoc.net (ngày 26.4.2007). Các nhà có uy tín kia đã bị cái thế đối “quốc quốc - gia gia” mơn trớn và ru ngủ nên cũng chẳng cần biết rằng từ vựng tiếng Việt không hề có danh từ “gia gia” với tính cách là tên của một giống chim mà hệ động vật của Việt Nam cũng chẳng có giống chim nào tên là “gia gia”.Tóm lại, ta tuyệt đối không thể có “ý văn” hay nếu nó được diễn giảng từ những từ ngữ bị bóp méo.Chơi chữ mà lại bóp méo từ ngữ thì còn chơi cái gì?
Cuối cùng xin nói cho rõ ràng rằng chúng tôi đã không hề bàn đến hai tiếng đa đa (da da, gia gia) với tính cách là một hiện tượng ngữ âm lịch sử thuần tuý. Ở đây, ngữ âm học lịch sử chỉ là một phương tiện. Nên nhớ rằng văn học có một mối quan hệ khăng khít với ngữ học. Điều này, các chuyên gia đã nói đến từ lâu.
          ( Nguồn dẫn:  Sông Cửu Long; http://vannghesongcuulong.0rg.vn)
                             Tác giả:  An Chi) 
http://www.vienngonnguhoc.gov.vn/?act=News&do=Detail&nid=101