Pages

Showing posts with label Hoa kỳ. Show all posts
Showing posts with label Hoa kỳ. Show all posts

Tuesday, November 27, 2012

Hoa Kỳ phiêu lưu ký: Những thành phố phía tây

Thứ năm, ngày 13 tháng chín năm 2012

Năm 1993, từ Washington DC thuộc bờ biển phía đông lạnh giá, tôi đáp chuyến bay xuyên nước Mỹ để quay lại tiểu bang California nắng ấm. Về mặt địa lý, vùng bờ biển Hoa Kỳ được bao bọc bởi hai đại dương: Đại tây dương là cửa ngõ đón chào người di dân từ châu Âu với tượng Nữ thần Tự do đặt tại thành phố New York và sau này có người nói: Thái bình dương cũng đón chào những người di dân từ châu Á bằng chiếc cầu Golden Gate tại San Francisco.
Cầu treo Golden Gate mà thời VNCH thường gọi là Kim Môn (cổng vàng) là biểu tượng của Cựu Kim Sơn, một cái tên Hán-Việt mà ngày xưa người Sài Gòn thường dùng mỗi khi nói đến San Francisco. Golden Gate được khánh thành năm 1937 với chi phí 35 triệu đô la để trở thành cửa ngõ chào mừng các chuyến tàu xuyên Thái Bình Dương trước khi thả neo trong vịnh San Francisco.
Golden Gate Bridge, San Francisco
Tên là Cổng Vàng nhưng đúng ra thì cầu lại được sơn màu đỏ cam (orange vermilion) để nổi bật giữa vùng biển xanh và vùng cỏ khô vàng nhạt ở hai đầu cầu. Tàu bè qua lại trên vịnh dễ nhìn thấy chiếc cầu với hai tháp treo từ xa nhưng chuyện sơn cầu là cả một vấn đề vì chỉ riêng khoảng cách giữa trụ tháp đã dài 1.280m.
Lớp sơn nguyên thủy sau 100 năm bị rỉ sét vì hơi muối từ nước biển đến năm 1965 đã được cạo bỏ và sơn lại bằng sơn lót zinc silicate và phủ bên ngoài bằng sơn acrylic emulsion. Vừa cạo vừa sơn lại phải mất 30 năm và hoàn tất năm 1995. Hiện nay, hàng ngày một toán thợ sơn gần 40 người chỉ lo sơn cầu. Họ làm việc quanh năm 365 ngày vì vừa sơn xong đến đầu cầu bên này thì đầu cầu bên kia, lớp sơn đã bắt đầu nhạt màu!
San Francisco có rất nhiều điểm du lịch. Theo tôi, nổi tiếng nhất là Fisherman's Wharf (Bến Ngư phủ) nằm bên bờ vịnh và Chinatown (Phố Tàu) được thành lập sau thời kỳ 1849 khi người dân đổ xô đến đây tìm vàng và ngành đường sắt bắt đầu hoạt động. Cho đến nay, San Francisco vẫn còn giữ những chiếc cable car lên xuống các con dốc để phục vụ khách du lịch như tàu điện ‘leng keng’ ở Hà Nội thời Pháp thuộc. 
   
Cable car tại San Francisco
Trong danh sách 10 thành phố tốt nhất để định cư tại Hoa Kỳ có đến 2 thành phố thuộc tiểu bang California. Thành phố San Luis Obispo với 285 ngày nắng ấm một năm và có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất nước Mỹ. Kế đến là Santa Barbara, thành phố của những người giàu có, những người trung lưu về hưu với giá nhà trên dưới 1 triệu đô la.
Nói đến miền duyên hải phía Tây người ta nghĩ ngay đến California, tiểu bang đông dân nhất trong số 50 bang tại Hoa Kỳ. California có thủ phủ là Sacramento, một địa danh tương đối nhỏ bé nếu so với hơn 450 thành phố trong tiểu bang. Về tầm vóc và dân số, Sacramento có lẽ chỉ là ‘chú em út’ nếu so với Los Angeles nhưng Sacramento vẫn là thủ đô của tiểu bang California, quê hương của phong trào hippy vào cuối thập niên 60!
Sacramento, thủ phủ của tiểu bang California
Thành phố đầu tiên tôi đặt chân đến trong chuyến phiêu lưu và miền Tây là Los Angeles, thành phố lớn nhất tiểu bang California và đứng thứ nhì sau New York City về mặt dân số. Đây là lần thứ 3 tôi đến Thành phố của các thiên thần theo nghĩa tiếng Tây Ban Nha của Los Angeles. Phong cảnh vẫn như xưa. Los Angeles vẫn mang sắc thái riêng biệt của của vùng bờ biển Thái Bình Dương, khác hẳn với ‘quả táo’ New York City bên bờ Đại Tây Dương.
Tại kinh đô điện ảnh Hollywood, Đại lộ Danh vọng (Walk of Fame) ngày càng nhiều ngôi sao năm cánh màu hồng xuất hiện trên vỉa hè. Mỗi ngôi sao khắc tên khắc tên một nghệ sĩ được vinh danh trong các lãnh vực nghệ thuật qua các biểu tượng máy quay phim tượng trưng cho ngành điện ảnh, chiếc TV cho ngành truyền hình, micro cho ngành truyền thanh, máy hát cho ngành ghi âm, mặt nạ cho kịch nghệ… Để được có tên trên vỉa hè Hollywood, các nghệ sĩ phải là những người có thời gian hoạt động trong ngành giải trí ít nhất là 5 năm với nhiều cống hiến cho xã hội và nhận được nhiều giải thưởng trong sự nghiệp.
Lý Tiểu Long trên Đại lộ Danh vọng, Hollywood
Disneyland vẫn thu hút hàng triệu khách du lịch ‘tuổi từ 9 tới 99’ theo quảng cáo của công viên giải trí hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, lần này đến Los Angeles tôi không đến Disneyland và thay vào đó là Little Saigon. Nếu so với những lần tôi đến Los Angeles vào các năm 1971 và 1973, Los Angeles của năm 1993 có một sự thay đổi lớn: trên đường phố gặp nhiều người châu Á hơn hơn xưa vì California ngày nay là tiểu bang quy tụ nhiều người Việt nhất nước Mỹ.
Sau đợt di cư đầu tiên của người Việt tại Mỹ vào năm 1975, chính phủ Hoa Kỳ đã thành lập 3 khu tỵ nạn lâm thời tại Pendleton (California), Fort Chaffee (Arkansas) và Eglin (Florida). Người Việt có khuynh hướng đổ dồn về California để tìm lại chút nắng ấm của quê nhà và từ đó hình thành một địa danh mang âm hưởng hoài niệm thành phố Sài Gòn ngày xưa. Đó là Sài Gòn Nhỏ hay Little Saigon.
Nước Mỹ không chỉ có một Little Saigon ở Westminster. Ngày nay, Little Saigon đã biến thành ‘thương hiệu’ tượng trưng cho những khu thương mại của người Việt tại khắp Hoa Kỳ và lan rộng ra khắp thế giới. Tại một nước Bắc Âu xa xôi như Thụy Điển cũng có một tiệm ăn mang tên Lilla Saigon bằng tiếng địa phương tại thành phố Gävle.
Little Saigon ở Gävle, Thụy Điển
Ở thành phố Newcastle bên Anh, người ta cũng thấy xuất hiện một tiệm ăn Việt Nam mang tên Little Saigon với cành trúc la đà trên bảng hiệu nhưng lại kèm thêm biểu tượng ngôi đền Taj Mahal bằng đá cẩm thạch của Ấn Độ. Có lẽ đây là một sự kết hợp hai nền văn hóa ẩm thực Việt Nam - Ấn Độ? Biết đâu chừng đây là kết quả của một cuộc hôn nhân Việt-Ấn?
Little Saigon, Newcastle, Anh quốc
Tiền thân của Sài Gòn Nhỏ (thứ thiệt) nằm trong thành phố Westminster thuộc Quận Cam (Orange County). Nơi đây ngày trước vốn là nơi sinh sống của cộng đồng người bản xứ nhưng bắt đầu từ 1978 những người Việt tiên phong, trong đó có Danh Quách và Triệu Phát (người Việt gốc Hoa) đến xây dựng những cơ sở thương mại trên đường Bolsa, đại lộ chính của khu dân cư mang tên Tiểu Sài Gòn (Little Saigon).
Cộng đồng người Việt từ đó đã hình thành và lan rộng đến các vùng lân cận như Garden Grove, Stanton, Fountain Valley, Anaheim và Santa Ana. Theo lời kể của K., một người bạn cũ từ thời trường Sinh ngữ Quân đội Sài Gòn, Triệu Phát là chủ khu Asian Garden Mall được khai trương từ năm 1987. Đây là khu thương mại có giá thuê cao nhất Little Saigon.
Asian Garden Mall, Little Saigon
Ông Phát còn xây dựng một khu mua sắm đối diện với Asian Garden Mall, thu hút rất nhiều người buôn bán gốc Việt. Ngày nay, nơi đây đã biến thành khu nhà ở, chỉ còn sót lại các bức tượng danh nhân gần nhà hàng Thanh Mai. Dân Bolsa đồn rằng những bức tượng này đều đã bị “ếm bùa” theo kiểu các thầy địa lý người Tàu (!).
Anh K. cũng là một trong những ‘thổ công’ khu Little Saigon. K. là một trong những người Việt đến Mỹ đợt đầu tiên và được đưa về trại tỵ nạn Pendleton cùng lúc với tướng ‘râu kẽm’ Nguyễn Cao Kỳ. Anh cũng là một trong những người tiên phong đến định cư tại Little Saigon sau khi rời trại Pendleton.
Tướng Kỳ và chiếc giường xếp nhà binh
trong những ngày đầu tại trại tỵ nạn Pendleton, California
Năm 1988, trên freeway San Diego 405 bắt đầu xuất hiện những bảng chỉ dẫn exit để vào đại lộ Westminster và Bolsa thuộc khu Little Saigon khi thị trấn phát triển với việc kinh doanh chủ yếu của người Việt và một số nhỏ người Hoa. Đây cũng là thời điểm hình thành các băng nhóm ‘xã hội đen’ nhắm vào các thương gia tại Little Saigon. Tuy vậy, anh K. cho biết, nơi đây vẫn được xếp vào nhóm các khu vực an toàn trên đất Hoa Kỳ.
Theo K., thương gia Triệu Phát còn có kế hoạch biến Little Saigon thành một địa điểm du lịch ‘ăn theo’ khách đến Disneyland ở Los Angeles. Dự án nghe nói lên đến 3 triệu đô la để biến Little Saigon thành một khu dành cho người đi bộ với cầu bộ hành nối liền các khu mua sắm. Tuy nhiên, kế hoạch này đã bị hội đồng địa phương gồm toàn người Việt bác bỏ vì kiến trúc quá thiên về kiểu Tàu (!).  
Người Việt gốc Hoa tại Little Saigon gồm đủ nguồn gốc, từ Quảng Đông, Tiều Châu cho đến Phúc Kiến. Năm 1984 có một siêu thị của người Tàu mang tên 99 Price Market, sau đổi thành 99 Ranch Market, nhưng sau cùng phải dẹp tiệm vì không cạnh tranh nổi với người Việt.
Những bức tượng Tàu ở 99 Ranch Market
Ngày nay, nổi bật trong số các siêu thị của người Tàu có Sun Fat Supermarket của ông Thuận Phát, một doanh nhân người Việt gốc Hoa khá nổi tiếng tại Orange County. Sun Fat (Thuận Phát) khá phát đạt với các cửa hàng của người Việt kinh doanh rất nhiều mặt hàng.
Cửa hàng mang tên "Vua Khô Bò"
trong khu Sun Fat (Thuận Phát) Supermarket
Bolsa là con đường chính của Little Saigon với hai trung tâm thương mại Asian Garden Mall và Little Saigon Plaza. Đại lộ Westminster cũng nhộn nhịp với các tiệm phở, tiệm nail, tiệm bánh mì thịt, tiệm cà phê theo kiểu Việt Nam bên cạnh các văn phòng luật sư, phòng khám bệnh, chữa răng, thẩm mỹ viện, đại lý du lịch (chủ yếu là về Việt Nam).
Người Việt có thói quen giữ tiền mặt trong nhà, người Mỹ gọi đó là keep money under the mattress. Tuy nhiên, khi sang đến Hoa Kỳ, sự tiện lợi và an toàn của các dịch vụ ngân hàng đã khiến họ thay đổi hẳn thói quen khi còn ở Việt Nam. Đó cũng là lý do khiến Cathay Bank, East West Bank và Chinatrust Bank xuất hiện tại Little Saigon. Kèm theo những hoạt động ngân hàng là dịch vụ chuyển tiền về cho thân nhân tại Việt Nam được quảng cáo rầm rộ tại những khu thương mại ở Little Saigon.
Dịch vụ chuyển tiền về cho thân nhân tại Việt Nam
Tiểu Sài Gòn còn được coi là trung tâm văn hóa của cộng đồng. Nơi đây có Little Saigon Radio, Radio Bolsa và truyền hình phát bằng tiếng Việt như Little Saigon TV. Ngoài ra, Little Saigon còn có một hệ thống báo chí chủ yếu nàm trên đường Moran ở Westninster như các tờ Người Việt, Viet WeeklyViễn Đông… Các hoạt động văn nghệ cũng phát triển rầm rộ với trên 30 trung tâm băng nhạc, phòng ghi âm, phim trường.
Tòa soạn báo Người Việt
Năm 1990, siêu thị Phước Lộc Thọ ra mắt tại Little Saigon với slogan ‘Một siêu thị lý tưởng của người Việt hải ngoại’. Ghé qua đây năm 1993, tôi có dịp quan sát cặn kẽ hơn sinh hoạt của người Việt qua sự hướng dẫn của tour guide ‘bất đắc dĩ’: ca sĩ Phương Hồng Quế!
Phước Lộc Thọ
Xin nói thêm một chút về nhân vật bác sỹ Kỳ trong truyện ngắn Năm tháng khó quên trên Tạp chí Da Màu (http://damau.org/archives/6135) trích từ Chương 5: Thời Cải Tạo. Kỳ là chân dung ‘người thật, việc thật’ của bác sỹ trung úy quân y Phạm Kỳ Nam. Trước 1975, anh là bác sĩ phẫu thuật tại Tổng y viện Cộng Hòa. Nam được ra trại cải tạo sớm hơn tôi vài tháng, nghe đâu gia đình cũng phải chạy chọt nên mới được về, trên danh nghĩa là công tác tại Nông trường Phú Mỹ ở Hóc Môn.
Khi tôi ra trại, tìm lại Nam ở Sài Gòn, anh đã là chồng của ca sĩ Phương Hồng Quế, họ sống tại căn nhà mặt tiền khá lớn trên đường Hai Bà Trưng, gần cầu Kiệu. Đây là căn nhà của bố mẹ Phương Hồng Quế và cũng là nơi tụ tập các bạn bè cải tạo của Nam, đa số là sĩ quan “Ngụy” nay trở thành những tay buôn bán thuốc tây trên chợ trời góc đường Hai Bà Trưng-Trần Khắc Chân gần ngay đó. Riêng tôi trở thành ‘gia sư’ kèm Anh văn cho Phương Hồng Quế, Phương Dung (cô em gái bị bại liệt) cho đến Thu Hiền (cháu gái của Phương Hồng Quế).
Trước 1975, từ cô gái ‘vô danh tiểu tốt’, Nguyễn Thị Quế bỗng trở thành nổi tiếng qua lò đào tạo của nhạc sĩ thời danh Nguyễn Đức đã lancer một loạt các ca sĩ như Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Ngọc và Phương Hồng Quế. Cô được giới ca nhạc Sài Gòn gắn cho biệt hiệu “Ti Vi Chi Bảo” vì lúc đó miền Nam bắt đầu dùng ti vi đen trắng. Trước đó, đào cải lương Bạch Tuyết cũng được xưng tụng là “Cải Lương Chi Bảo”.
Phương Hồng Quế thập niên 60
Phương Hồng Quế, một ca sĩ vừa có tài, vừa có sắc, chuyên hát loại nhạc bolero, rumba. Bố mẹ Quế xuất thân từ gia đình lao động, may mắn có cô con gái nổi tiếng trong giới ca nhạc, ‘hát ra tiền’, nên đã tậu được một căn nhà mặt tiền trên đường Hai Bà Trưng. Sau này, trước khi sang Mỹ, Quế còn mở một nhà hàng lấy tên Phương Hồng trên đường Trần Hưng Đạo, gần nhà hàng Vân Cảnh.
Nam và Quế có 2 mặt con, một trai một gái, tất cả đều theo gia đình bên ngoại đi định cư tại Mỹ. Bác sĩ Nam vẫn ở lại Sài Gòn, có lẽ họ không có hôn thú ràng buộc hay cũng có thể Nam không muốn ra đi (?). Lần gặp gần đây nhất, năm 2009, Nam là một ông già tóc buộc đuôi gà, bạc trắng (hồi xưa đã có biệt danh Nam ‘đầu bạc’)… Tuy nhiên, cái tật nói chuyện oang oang, bất cần đời vẫn như xưa. Nam than mình có đủ thứ bệnh, từ tiểu đường, cholesterol, tim mạch và cả alzeimer… Gì chứ chứng alzeimer thì tôi cũng có!
 
Phương Hồng Quế và con tại Little Saigon, 1993
Năm 1993, từ Los Angeles tôi điện thoại liên lạc với Phương Hồng Quế. Cô học trò English for Today ngày nào vội vàng lái xe đón tôi về Little Saigon. Ở bên Mỹ, đi hát trở thành nghề ‘tay trái’, Quế phải có nghề ‘tay phải’ là mở công ty dịch vụ du lịch, coi bộ cũng khấm khá.
Cơ sở kinh doanh của PHQ
Công việc kinh doanh chắc cũng tiến triển tốt nên nhà Quế có đến 2 chiếc xe, trong đó có một chiếc Mercedes. Buổi chiều, Quế đưa tôi về lại khách sạn ở Los Angeles, không quên dúi cho tôi 300 đô để… “Ông thầy mua quà về cho các cháu”. Tôi rất xúc động. Không phải vì 3 tờ 100 đô mà chính vì tấm lòng của người học trò ngày xưa đã học hết bộ sách English for Today tại Việt Nam đến lúc này mới có dịp bày tỏ lòng tri ân đối với ‘ông thầy’ giữa Little Saigon!
Theo báo Người Việt (Chủ Nhật 20/1/2009), trong đêm hội ngộ của các KBC tại Nam California do Nguyệt San KBC Hải Ngoại tổ chức, Phương Hồng Quế đã được ‘lên lon’ Hạ Sĩ Nhất sau 30 năm. Người Việt viết: “Ca sĩ Phương Hồng Quế cho đến nay vẫn luôn có mặt sinh hoạt với anh em cựu chiến sĩ QLVNCH. Và trong dịp này, cô được Tướng Lê Minh Ðảo đích thân trao plaque “Hạ Sĩ Nhất Danh Dự” trong đêm hội ngộ”.
Bà mẹ và hai con của PHQ trong một khung cảnh VN giữa lòng Little Saigon
Tháng 1/2010 tôi nhận được mail của người bạn tên VHĐ viết từ Hoa Kỳ: “… Tối 31/12/2009, tình cờ moa gặp Phương Hồng Quế cùng đi chợ cuối năm trong Saigon Super Market. Moa hỏi có biết Nguyễn Ngọc Chính không thì cô ta trả lời: "Không biết bây giờ Thầy ở đâu. Ừ mà sao anh quen Thầy?". Sau khi tôi cho biết là cùng dạy chung ở TSNQD Saigon, Quế nói: "Mấy năm trước Thầy có qua đây". Tôi hỏi về gia đình thì Quế nói: "Ồ, con em nay đã 28 rồi mà vẫn chưa có gia đình…".
Ít ngày sau, VHĐ còn phone cho tôi và nói thêm: “Moa rất xúc động vì một ca sĩ nay đã luống tuổi mà khi nhắc tới ‘ông thầy’ vẫn với một giọng tôn kính như một cô học trò ngày nào!”.
Theo VHĐ, anh rất trọng những người dù là thành phần nào trong xã hội, nhất là xã hội Mỹ, vẫn luôn luôn kính trọng người thầy ngày xưa…
***
(Trích Hồi Ức Một Đời Người – Chương 9: Thời hội nhập)
Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:
  1. Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
  2. Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
  3. Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
  4. Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
  5. Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
  6. Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
  7. Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
  8. Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
  9. Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ) 
 Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!

Bản chất ghê tởm của người Việt ở Hoa Kỳ



Tác Giả: K2 Nguyễn Thừa Bình

Thứ Năm, 26 Tháng 7 Năm 2012 21:35
Bài viết nầy không nhắm trực tiếp vào ai cũng không hồ đồ chi tiết cho riêng ai.
.NHỮNG CHUYỆN TRỜI ƠI.
Ở trên đời có những chuyện tréo cẳng ngỗng một cách chướng tai, gai mắt. Người ta thích nịnh hơn nói thật, nói thẳng. Ai cũng tỏ ra ta đây hơn người, khoe những cái hay (không có), che những cái dỡ (dẫy đầy) mà làm những việc đáng phiền hà. Khi khen thì vỗ tay rần rần.
Khi chê thì “ngậm máu phun người”. Làm sao mà tiến bộ!? Nói một đường làm một nẽo. Nói chống Cộng thì y như rằng, làm lợi cho Việt cộng. Nói lương thiện, y như rằng làm chuyện bất đạo.
Mới dưới tượng Chúa xưng tội, dưới tượng Phật sám hối bước ra, thì vẫn cứ mưu tính chuyện vô lương. Những kẻ huênh hoang nhất là những kẻ ti tiện nhất.
Chúng tôi xin đơn cử vài mẫu chuyện mắt thấy tai nghe dẫy đầy trong thành phố nhỏ nhoi của chúng tôi, thành phố Kansas City của tiểu bang Missouri, thấy mà không nói thì không chịu được!


- Có một tiệm, tôi chỉ nói có một tiệm buôn bán DVD, CD ở đây cứ sang lậu các dĩa DVD, CD của các trung tâm, của các nhà làm phim, của các ca sĩ…mà bán. Và bà con ta có những người thuộc loại keo kiết cứ kiếm các dĩa dvd, cd sang lậu đó mà mua. Mua mua, bán bán…các trung tâm sản xuất đóng cửa, các ca sĩ, nghệ sĩ giải nghệ. Một, hai năm nữa, khắp nơi trên thế giới, chỗ nào có người Việt thì có từng đống, từng đống nhạc “như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” bán rẻ 1 đồng, 5 cắc cũng mua nghe cho đỡ ghiền, rồi thành Việt Cộng hồi nào không hay.
Lương tâm đâu!? Ðạo đức đâu!? Người Việt Quốc Gia đâu!? Những kẻ bần tiện, làm những chuyện bất nhẫn, bất nhân, bất nghĩa như vậy cứ vênh vênh cái bản mặt tự đắc, tự kiêu có bao giờ thấy tội trước Phật, trước Chúa…vễnh to lỗ tai nghe người ta chửi, rủa đến ba đời tổ tiên mình?


- Việt Nam mới qua, thấy cái gì cũng ham, cũng hám:
* Thấy mấy xe mua hàng ( shopping cart ) ở các cửa tiệm mạ kền bóng lộn khoái quá, quen thói “chôm chỉa” ở Việt Nam, bèn lén lút đẩy về nhà dấu làm kỹ vật ăn cắp.
Một chiếc rồi hai chiếc để chật nhà. Không giống ai. Nửa đêm thậm thà thậm thụt, vợ chồng xấu hổ quá, rủ nhau đem bỏ ngoài đường.
Xóm làng nói nhau: “đồ thứ tham lam”.

* Thấy sự mua đi trả lại dễ quá, bèn cứ mua máy chụp hình, máy quay phim, áo quần, giày dép…thật tốt thả giàn. Sinh nhật xong, đám cưới xong, đi chơi xa xong, đem trả lấy tiền lại, có sao đâu?
Có chết thằng Tây trắng, thằng Tây đen nào đâu? Có là có người ta chửi cha, chửi mẹ mình; có là có Bề Trên bắt tội là “đồ gian giảo”, sau khi chết, theo Ðạo Thiên Chúa xuống địa ngục; theo Ðao Phật vào cõi súc sanh ngạ quỷ.

* Cứ mặc đồ xấu vào tiệm bán đồ cũ ( thrift store ), thản nhiên mặc đồ tốt vào, đi ra không thèm trả tiền cho ai, tênh hếch cái bản mặt cướp cạn!
Vào các tiệm, tráo đổi hay quăng bỏ những barcode đi rồi tự nhiên như người Hà Nội bỏ vào túi ra cửa hay ra cashier tính tiền rẻ. Bị bắt sẽ bị tội ăn cắp hàng ( shop lifting ).
Lúc đó đứng kêu trời, trời cũng không giúp được cái thứ mánh mung, hôi của, cướp vặt.

Vào Chùa không để lạy Phật, nghe Pháp, đọc Kinh mà để “ăn giành ăn giựt” lấy, dấu thức ăn thiện nam tín nữ cúng, đem về cho vợ, cho chồng, cho con, cho cháu “nuốt cho bội thực”… mặc kệ ai làm lễ xong, ra không còn gì. Dẫu có hiền cách mấy, cũng phải la lên “đồ cô hồn đói”.
Mấy đứa nhỏ vì cha mẹ chúng không biết dạy, không nói chi. Mấy người lớn còn tệ hại hơn, tư cách đâu mà dạy với không dạy. Sống chỉ một mình hay hai vợ chồng già, cũng ôm đồm “hốt” được chừng nào hay chừng nấy về ăn… cho chết.


Trong hảng xưởng giành làm over time để lấy tiền “one and one-half” mà gây lộn nhau, chửi lộn nhau. Ðàn ông thì cung tay chửi thề. Ðàn bà thì vỗ bành bạch.
Người ta đứng cười mà thấy “mắc cỡ” hết sức người Việt Nam. Cũng vì lòng tham đồng tiền, bạn bè ta đi tìm cái nhục.


Mướn hội trường của người ta làm tiệc cưới, thấy những cây Golf Club để ơ hờ một góc đẹp quá, mấy đứa nhỏ con cái nhà ai đã âm thầm rủ nhau “mượn” đem về nhà dấu làm kỷ niệm. “Một là đền 40,000 đô, hai là bị đưa ra tòa”.
Tham lam, có cái giá của nó. Giá mất tiền đã đành. Giá mất danh giá gia đình, giòng họ mới nhục. Tội hai gia đình cô dâu và chú rể đau hết sức là đau bỏ ra 40,000 đô la để khỏi “bị đưa ra tòa”!
Hay cũng bắt chước. Dở cũng bắt chước. Rủ nhau bắt chước… ra tiệm Nail cho nhiều, phá giá từ full set 70 đô, 100 đô làm không kịp, giờ 20 đô, 15 đô cũng không có khách mà làm.
Chết là cái chắc! Dễ mà! Qua Mỹ từ năm 1975 cũng Nail. Mới đầu hôm sớm mai qua Mỹ cũng Nail. Học cao cũng Nail. “I-tờ-rí” cũng Nail. Già cũng Nail. Trẻ cũng Nail. Có bằng Nail cũng Nail. Không bằng Nail cũng Nail. Nail và Nail “xà nẹo” nhau dẹp tiệm!.


Qua Mỹ hưởng cuộc sống văn minh đủng đỉnh, bỏ sau lưng đời khốn nạn, bèn phát biểu một cách vô tư rằng thì là “nhờ Việt Cộng mà gia đình tôi được qua Mỹ”. Vợ và con gái người ta bị cỡi trần truồng hãm hiếp trước mặt. Thân nhân người ta bị chết thảm phải quăng xuống biển. Có nhớ sự nghiệp còn cái quần xà loỏng đóng khố…và cô độc sống lủi thủi, ăn mày trên xứ lạ…có “nhờ Việt Cộng” không!?
Lạ! Câu nói đó lại từ miệng anh Trung Úy Chiến Tranh Chính Trị của VNCH đi Diện HO.
Lạ! Câu nói đó lại từ miệng chị lấy chồng Mỹ đi Diện Con Lai.
Câu nói đó không từ miệng bất cứ bà con nào đi Diện Vượt Biển, Vượt Biên.
Họ không nói “nhờ Quân, Dân, Cán, Chính của Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh xương máu đánh Việt Cộng cho họ còn sống đến ngày hôm nay qua Mỹ, con có đứa Bác sĩ, Luật sư…và mình đời hết khốn nạn như thời ở cái nước gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!


Ở Mỹ vài năm có chút tiền, mua được nhà, mua được xe, có người toét loét cái miệng than: “khổ như trâu” và trở mặt phản phúc: “Mỹ bốc lột hơn Việt Cộng”.
Khổ như trâu chắc không bằng người Sài Gòn đêm đêm làm chuột, lủi xuống ống cống nước kiếm ăn!?
Khổ như trâu chắc không bằng mấy đứa nhỏ đói xác đói xơ tìm sống trên đống rác?
Mỹ bốc lột hơn Việt Cộng mới có tiền dư mà “áo gấm về làng” ăn chơi đàng điếm. Mình lạy lục xin vào Mỹ. Mỹ đếch mời mình vào! Hãy để bà Julia Gillard, Thủ Tướng nước Úc “dạy” cho bài học “if you aren’t happy here then leave. We didn’t force you to come here. You asked to be here…”
Mùa Ðông cũng như mùa Hè, mẹ và đứa con gái đi chợ, lúc nào cũng thùng thình áo quần hai, ba lớp, túi rộng thênh thang.
Ðể làm gì? Ðể ăn cắp kẹo.
Những Camera đang nhìn trừng trừng. Có ngày “xộ khám” làm sao mà ăn mà nói hỡi Trời!? Không phải nghèo một nhúm kẹo. Không phải đói một nhúm kẹo. Không phải thèm một nhúm kẹo.
Vậy thì, tại làm sao? Tại vì “tham”, không còn liêm sỉ, thấy cái gì của ai cũng muốn ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp.


“Trưởng giả học làm sang”, xênh xang trong nhà vài con chó lớn, chó nhỏ cho nó oai. Mua chuồng cho chó. Hớt tóc cho chó. Sắm áo cho chó. Mua thức ăn cho chó.
Mua xương gặm cho chó. Chích thuốc lu bù cho chó… Cả mấy đứa con, trai có, gái có mà để cha ở riêng một mình chết thúi mấy ngày không thằng nào, không con nào hay biết! Vậy mà hở ra, cứ ta là Trung Úy Hải Quân, ta là vợ Ðại Úy Quân Y…nghe mà thúi cả ruột gan cữu tộc!

Giành giựt nhau lượm lon. Ông A nói; “khu vực đó là của tôi”. Ông B nói: “tôi lượm lon ở đây lúc anh còn ở Việt Nam”. Ông A chửi ông B: “đồ chó”. Ông B chửi ông A: “đồ chó”.Thì ra, hai ông đều “đồ chó” hết trơn như nhà thơ Cao Bá Quát đã nói: “…Bỉ viết cẩu. Thử viết cẩu. Bỉ thử giai cẩu…”


Ở đâu đâu, hai ông bà của hai gia đình người Huế cũng oang oang cái lổ miệng rủ nhau khua môi, múa mỏ làm người ta nhức cả đầu.
Một ông bà rằng thì là “con tôi học Luật Sư, sắp ra Luật Sư” làm như một hiện tượng hi hữu. Một ông bà rằng thì là “con tôi một đứa đã là Bác Sĩ và một đứa nữa sắp ra Bác Sĩ”.
Ðể làm gì? Ðể nổ cho người biết, “ta đây”? Lạ gì các anh chị ở Việt Nam, bỏ Huế vào Sài Gòn sống một đời sống lăn lộn ở chợ cầu Ông Lãnh quen thói “đá cá lăn dưa”?


“Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra. Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó, Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi”. Ðó là “bài thơ con cóc”.
Ở đây, ít nhất cũng có một anh học hành chẳng ra gì nhưng ưa khoe tài hay chữ và tài làm thơ dở hơn “thơ con cóc”, bắt người ta nghe muốn “mệt nghỉ”. Người ta bị nghe hoài, người ta nói thẳng: “ông không nghe tụi nó nói, thơ ông là “thơ con cặt” sao?”
Người ta mới nghe một lần đã chửi: “đồ thúi như cứt”. Tôi không hiểu tại sao ổng hợm đến mức cứ: “tôi xin đọc bài thơ của tôi cho các anh nghe”.


Bước vào Chùa, Nhà Thờ, Cộng Ðồng…không đóng góp thì nói có. Ðóng rất ít thì la toáng lên nhiều lắm. Ủng hộ năm, ba đồng thì lúc nào cũng “sao không thấy tên tôi?”.
Ðúng là miệng lưỡi kẻ ti tiện. Lén ăn cắp. Lén lấy đem về thì im thin thít. Ðúng là cung cách kẻ bần cùng. Giữ của như Ma Xó, chết rồi cũng trắng tay. Bần cùng, ty tiện, chết rồi cũng thiêu ra tro. Có điều, xú danh con cháu phải mang tiếng nhục đời đời.


“Chân mình còn lấm bê bê mà cầm bó đuốc đi vê chân người”.
Ở đây có nhiều người đàn ông bỏ hết thì giờ ra rình mò chuyện riêng tư của người rồi như đàn bà, ngồi lê đôi mách thêm bớt nói xấu người ta, rằng: “Ông nầy lấy vợ thằng kia”. “Con bé đó bỏ nhà theo trai”. “Thằng nhỏ nọ bỏ học, bụi đời, hút xách” mà không có thì giờ nghĩ đến con mình không đứa nào ra đứa nào.
Tại sao vậy!?Tại vì cái thói muốn ai cũng “tệ”, cũng “xấu”, cũng “ hư”, cũng “nghèo”, “cũng “thua mình” để cười cho đả mà không nghe người ta chửi cho!

Một chị Việt Nam theo chồng người Mỹ về nước Mỹ từ 1972. Sống trong xã hội Mỹ, nhớ người Việt Nam. Khoảng những năm 1985 đến 1990, mừng gặp lại bà con người Việt. Chị, chồng chị và 2 đứa con lai của chị, xúm lại hết lòng giúp đỡ đồng hương của mình đang chân ướt chân ráo, bơ vơ nơi xứ lạ quê người. Một vài năm sau, đồng hương của mình khúm núm hồi nào, bây giờ làm ăn được, gặp ân nhân, không có một lời hỏi han, còn nói: “đồ thứ Me Mỹ”. Phản phúc! Nghe đứt cả ruột gan!.

Một người, trước năm 1975 ở Việt Nam trốn lính.
Ðến Mỹ bỗng thành Ðại Úy Nhảy Dù. Giả tới giả lui, quen mình là Ðại Úy Nhảy Dù thứ thiệt. Lúc nào, ở đâu anh ta cũng nghêng ngang hách xì xằng, chê lính Sư Ðoàn, chê lính Tiểu Khu, chê lính Cảnh Sát…Người ta vừa giận, vừa tức cười …không cứ gì “thằng điên”. Ảnh qua đây từ những ngày đầu bình minh di tản, khá tiếng Anh, láu tiếng Việt, tốt tướng nên, dễ qua mắt bà con, quên mình sống nghề hái cà phê mướn ở Ban Mê Thuột.


Người mình nghĩ bằng cái bụng, không nghĩ bằng cái đầu nên, thường làm những chuyện trớt quớt, trời ơi! Cứ suy bụng ta, ra bụng người. Không động não theo lý trí để hành xử làm sao đúng làm sao sai cho người ta khỏi chửi mà, cứ một mực bụng làm dạ chịu tưởng là hay! Thấy người thất bại thì cười. Thấy người nghèo thì khinh.
Thấy người giàu thì ghét. Thấy người hay thì chê. Thấy người không chơi với mình thì thù. Thấy người tốt với mình rồi phản. Thấy người trước mặt thì khen, sau lưng thì nói xấu…Bụng dạ không biết đâu mà lường!? Phải chi có chút đầu óc, đỡ biết mấy!!!

Thấy người nổi hơn mình thì tìm cách đè xuống. Mình không ra cái gì lại muốn nổi lên. Không thích người ta thì đánh phá… Cái dễ đánh phá, dễ đè người ta xuống là cái Nón Cối máu Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam úp người ta là Việt Cộng. Có thể, hạng người nầy là thứ Việt Cộng, là thứ ăn bã Việt Cộng, là thứ bất tài háu danh, là thứ tư thù, là thứ ăn hại đái nát.
Ðừng đỡ đòn thúi của bọn vô loại, vô loài nầy, vừa dơ tay lại hết thì giờ lo chánh nghĩa. Cứ nhớ: “chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành vẫn đi” của chính trị gia Pháp Joseph Calliaux “le chien aboie, la caravane passe”. Mong lắm thay!


Trong hãng xưỡng cứ muốn làm hơn người ta rồi đi “mét” leader, supervisor cái bà đó, cái ông đó làm biếng. Ca trước muốn hơn ca sau; ca sau không chịu thua ca trước. Hơn hơn, thua thua làm “vượt chỉ tiêu” quá trời.
Ðược gì? Hãng xưỡng bắt làm nhiều hơn. Các con Mỹ, các thằng Mỹ, các con Mễ, các thằng Mễ chửi liền liền “fuck you”, “fuck you”. Mình có dại lắm không!?


Hai ông, một Ðại Úy và một không rõ lý lịch,
được nghe ổng nói là Giảng Sư Học Viện CSQG ( Giảng Sư lèo ) ngồi “bốc” nhau lên trời xanh. Ông Ðại Úy chê: “Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu không biết làm Tổng Thống, phải chi anh làm thì dân giàu, nước mạnh và mình đâu lưu vong”. “Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm cũng là thứ tệ, tôi tin anh làm Thủ Tướng không những hơn ông Khiêm mà hơn cả ông Nguyễn Cao Kỳ nữa”, ông Giảng Sư lèo nói lại.
Bốc qua bốc lại, ông Ðại Úy đi tới đâu người ta cũng không muốn gặp; ông Giảng Sư tới đâu, người ta cũng đóng cửa không cho vào.


Làm trong Station Casino, Ameristar Casino người ta quyên United Way,
đã không cho thì thôi lại “cho Mỹ uổng, để cho Việt Nam sướng hơn”.
Mình đã quên mình được nhân dân Mỹ cưu mang trăm thứ mới có ngày hôm nay. Người Mỹ có Lễ Tạ Ơn hằng năm. Ta sống một chục năm, hai chục năm, ba chục năm…không phải mắt không có con ngươi hay là kẻ mất trí mà không thấy, không biết. Ông bà mình đâu có dạy những đứa con mình vô ơn vô nghĩa một cách “đểu” như vậy.


Bà con mình khoái nghe láo hơn nghe thiệt. Cái nhà mua không “down” một xu teng thì nói 70, 000 đồng “cho người ta nể, không thì người ta khinh.
Nghèo cũng là một cái tội”. Cặp vợ chồng nầy “thành thật khai báo” với tôi như vậy. Mà thiệt, người ta đã trọng cặp vợ chồng nầy từ khi họ biết nói láo, huyênh hoang. Hèn chi một anh đi hái cà phê mướn ở Ban Mê Thuột đã nói ở trên muốn “con nhái to như con bò” bèn trút lớp áo “cu-li” thành Ðại Úy mà “Ðại Úy Nhảy Dù người ta mới ngán” .

Ôm một đống school supplies của Don Bosco phát cho mấy em bé con nhà nghèo về, khoe: “nhờ khéo chen, lấn, luồn, lách và còn chút nữa đánh lộn với người ta mới được về sớm thế nầy, chứ tới phiên mình thì còn gì nữa và nắng quá chịu gì nổi”. Chắc vợ chồng ông em bạn nầy đui, điếc và quen lối sống thiếu văn minh dưới cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nhiều năm rồi nên hồ đồ một cách mọi rợ!?


Những cuộc biểu tình của đồng bào Người Việt Quốc Gia chống Cộng ở ngoại quốc, đích thực có giá trị triệt tiêu những manh động của Việt Cộng và tay sai.
Có kẻ tanh tưởi phát biểu rằng thì là “không đụng tới sợi lông tụi Bắc Bộ Phủ”. “Không đụng tới sợi lông Bắc Bộ Phủ” mà Trần Trường phải hạ lá cờ máu và hình Bác của tụi nó bị liệng xuống cống. “Không đụng tới sợi lông Bắc Bộ Phủ” mà âm mưu Madison Nguyễn không thành. Nhất là tụi Việt Cộng, có đứa nào nghênh ngang ở ngoại quốc và lá cờ máu của chúng cắm lên chỗ nào là bị quăng xuống đất chỗ nấy ngay.
Hai ông già cỡ 65 tuổi, một cựu Ðại Úy Không Quân còn vợ, một cựu Trung Sĩ Truyền Tin vợ chết.
Ông Ðại Úy nói: “tôi có lấy vợ, vợ tôi phải trẻ, thật trẻ, trẻ chừng nào tốt chừng nấy”. Ông Trung Sĩ nói: “ngang ngang tuổi tôi cũng được miễn là ăn ở với nhau trọn đời”.
Ông Trung Sĩ về Việt Nam rước qua Mỹ một bà già “ngang ngang tuổi tôi cũng được…”; ông Ðại Úy bỏ vợ về Việt Nam cặp kè một con đàn bà nhỏ tuổi hơn con gái út của mình. Thời gian quá ngắn qua đi, bà già “ngang ngang tuổi tôi cũng được” và “vợ tôi phải trẻ, thật trẻ, trẻ chừng nào tốt chừng nấy” rủ nhau chuồng tuốt luốt để hai ông trơ trọi “ngồi buồn gãi háng, dái lăn tăn”!


Ai cũng biết, bọn cầm quyền Việt Cộng toàn là thứ thảo khấu, chuyên ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp xương tủy đồng bào mình mà mình có ngu cách mấy cũng thấy, cũng biết chính cả mình cũng là nạn nhân nữa chịu không nổi, phải liều chết ra đi. Ai đời, bây giờ mình lại trở về “xênh xang” cho bọn đầu trộm đuôi cướp nầy sai bảo, làm vui cho chúng hả hê một cách đĩ thỏa!?
Tại sao chúng ta lại có những thứ “xướng ca vô loại” được nuôi lớn, vỗ béo từ Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại cứ “chình ình” cái mặt mo mà “ùn ùn” về Việt Nam kiếm chút “phân” tụi nó toẹt ra? Trách chi người ta cứ lôi ông bà, cha mẹ của họ ra mả chửi: “đồ thứ “thương nữ bất tri vong quốc hận. Cách giang do xướng Hậu Ðình Hoa” không biết liêm với sỉ là gì” cũng đúng thôi.


Người Việt ở đây không bao lăm người mà san sát đã có 3 chùa Sư, 2 chùa Cô rồi. Nay sẽ có thêm một chùa đang xây và một chùa sắp khai trương.
Bận nầy, các Sư trẻ măng, các Cô trẻ măng từ Việt Nam qua Mỹ lập chùa đông quá. Chùa, không thấy chùa nào treo cờ Việt Nam Cộng Hòa. Không biết tổ quốc của mấy Sư, mấy Cô đâu nhỉ, chắc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam?
Người ta đã nghi, các ổng, các bả là “cán bộ” của cái gọi là Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Một ngày nào không xa, các thầy như Thích Chánh Lạc, Thích Viên Lý, Thích Huyền Việt, Thích Giác Ðẳng, Thích Thông Triết…già đi, viên tịch đi rồi thì “ô hô! ai tai!” các chùa mặc sức Cờ Ðỏ Sao Vàng mà “Hồ Chí Minh Muôn Năm”!?


Những chuyện nêu trên là những chuyện có thật và được kể thật. Nếu mà kể đủ thì không bao giờ đủ được, không bao giờ hết được, còn nữa và nhiều nữa. Chừng ấy cũng đủ nhức cả đầu, hoa cả mắt.
Dĩ nhiên, chúng ta cũng có khối gì những con người làm nên tiếng tốt vẽ vang Người Việt.
Nghĩ rằng, những chuyện kể trên sẽ có ít nhất những ai dính dáng vào nên thay đổi để chúng ta cùng nắm tay dẫn dắt con em mình đi trên con đường tươi sáng, hạnh phúc.
Những chuyện kể trên ta thấy hằng ngày, nghe hằng ngày nhưng cả nể hay sợ đụng chạm, không ai muốn đả động đó thôi. Mà “nín” như vậy, nghĩ cho cùng, đã là thiếu tinh thần xây dựng cũng như thiếu trách nhiệm tất nhiên.
Bài viết nầy không nhắm trực tiếp vào ai cũng không hồ đồ chi tiết cho riêng ai. Dù là sự thực của từng cá nhân một nhưng có tính biểu kiến và chung chung.
Nếu có những ai na ná với ai đó mà thấy chính mình ở trỏng cũng nên nghĩ lại mà sống sao cho lương thiện, trong sáng, liêm sỉ để một mai nằm xuống còn hy vọng được Chúa rước về Thiên Ðàng và Phật đón nơi Niết Bàn và ít nhất bây giờ đây đang hiện tiền, sống với nhau một cách chan hòa, thân thương đầy trân trọng…

Ðêm Hè 21 tháng 7 năm 2012
NGUYỄN THỪA BÌNH

Friday, November 23, 2012

Cuộc sống ở nước ngoài bắt đầu như thế nào?

Thứ sáu, 1/4/2011, 16:51 GMT+7
Ảnh minh họa google.

Ngôn ngữ và chiếc xe là chìa khoá mở đầu cho cuộc sống nơi xứ người, ngày nào còn chưa có hai thứ này thì bạn sẽ còn bế tắc.

Sau bài viết "Người Việt sống khoẻ ở Houston", tôi nhận được nhiều thư hỏi thăm. Nhận thấy nhu cầu tìm hiểu về đời sống hiện tại ở Mỹ nói chung và Houston nói riêng rất cao, do đó dựa theo một số thắc mắc của bạn đọc, tôi cố gắng tìm tài liệu để viết tiếp bài này.
Tuy rằng nội dung bài viết cũng chẳng có gì cao xa, to lớn như những bí quyết làm giàu, chỉ là một phần kiến thức nhỏ nhoi, nhưng có lẽ cần thiết với một số người đã hay đang có ý định qua đất nước này sinh sống.
Những năm đầu (75-85), phần lớn người Việt Nam khi tới Mỹ đều được hội đoàn hay nhà thờ đứng ra bảo lãnh hỗ trợ, cũng như được hưởng quy chế khá cao, nhất là những gia đình có con em nhỏ dưới 18 tuổi. Khi đó họ chẳng cần phải lo lắng, cứ từ từ tìm hiểu, học hỏi để hội nhập, mọi thứ đã có chính phủ lo. Đến từ một đất nước nghèo, nhu cầu vật chất cuộc sống còn ở mức tối thiểu, nên ai cũng hài lòng với hiện tại, nhất là thời điểm đó, nhìn quanh người Việt ai cũng nghèo như nhau, chẳng ai giàu hơn ai để so sánh.
Đời sống ở đâu cũng vậy, phải đi làm mới có thu nhập trang trải cuộc sống hàng ngày. Hơn nữa nhu cầu vật chất theo cuộc sống ngày càng lên cao.
Ngày mới qua, chỉ ao ước có nhu cầu sống tối thiểu. Nhưng khát vọng con người là thăng tiến, người Việt cũng không ngoại lệ, nên sau nhiều năm hội nhập, cuộc sống người Việt ở hải ngoại đã không còn cách biệt với người bản xứ, hay có thể có phần trội hơn. Vì người Việt vốn rất kiên trì chịu khó, cũng như bỏ công bỏ của nhiều để đầu tư cho học vấn con cái, nên sau nhiều năm, thành quả của họ có thể nhìn thấy một cách rõ ràng, phải nói là đáng ngưỡng mộ.
Còn thành phần mới qua định cư sau này, hầu hết là ra đi theo quy chế di dân, cá nhân bảo lãnh, như cha mẹ bảo lãnh cho con, anh em bảo lãnh cho nhau, chồng bảo lãnh vợ, do vậy điều kiện vật chất, thời gian hỗ trợ giúp đỡ có phần hạn chế hơn nhiều.
Đồng thời, vào thời điểm hiện tại, cuộc sống ở Việt Nam đã cải thiện hơn xưa. Có những bạn đang có cuộc sống tốt, có nhà (do cha mẹ để lại), có việc làm ổn định, hàng tháng (hay thỉnh thoảng) được thân nhân nước ngoài hỗ trợ một vài trăm đô la, có thể rất giàu hoặc không giàu, nhưng chí ít cũng có cuộc sống ung dung. Do đó có ước vọng rằng đi ra nước ngoài để có cuộc sống dễ dàng hơn, nhất là một cường quốc như nước Mỹ, và điển hình là thấy Việt kiều hải ngoại nhiều người thênh thang áo gấm về làng.
Với suy nghĩ như vậy, nên không ít người qua tới đây, thiếu kiến thức tối thiểu của cuộc sống hải ngoại, khi đối diện với khó khăn không lường trước đã không thích ứng được, dẫn đến suy sụp tinh thần, bất đắc chí, than thân trách phận, có khi oán trách cả người đã bảo trợ họ sang, vì sao giàu thế mà không lo cho họ một cuộc sống như họ muốn. Thành ra cả người bảo trợ lẫn người được bảo trợ đã lâm vào cảnh khó khăn bứt rứt, tiến thoái lưỡng nan, sứt mẻ tình cảm.
Ở bài viết này, tôi xin đưa ra những bước bắt buộc phải có của cuộc sống mới, mà bạn cần phải vượt qua, nếu muốn tái định cư ở một đất nước xa lạ, mọi thứ từ ngôn ngữ cũng như cách sống hoàn toàn khác biệt.
Sau khi đặt chân đến xứ Mỹ, người thân (người bảo trợ) sẽ mất vài ngày đưa bạn đi làm giấy tờ, hợp thức hoá cần thiết cho cuộc sống ở Mỹ, như thẻ căn cước, thẻ y tế, xin nhập học cho bọn trẻ.
Dưới đây là những quyền lợi bạn được hưỡng từ chính phủ:
- Các cháu dưới 18 tuổi sẽ vào học trường tiểu học và trung học gần nhà. Có xe bus đưa rước đi về hai bận, ăn trưa miễn phí ở trường. Có thể được cho vào lớp đặc biệt thời gian đầu để củng cố Anh ngữ. (Nhớ đem theo đầy đủ học bạ ở bên Việt Nam, và cần dịch sang tiếng Anh)
- Các cháu trên 18 tuổi có thể ghi danh nhập học ở trường cao đẳng địa phương với tên gọi là Community College. Ở đó bạn có thể học tiếng Anh và chọn một nghề nào đó làm kế sinh sống trong tương lai. Tùy theo sở thích và trình độ, bạn có thể chuyển tiếp lên trường đại học 4 năm để lấy bằng cử nhân.
Nếu bạn không có thu nhập, hoặc thu nhập thấp, thì tất cả miễn phí. Hầu hết ai cũng được chính phủ tài trợ (xin học bổng), đây là quyền lợi chung cho mọi công dân Mỹ.
Ngoài tiền học phí, sách vở do chính phủ giúp, miễn hoàn trả, nếu đủ điều kiện, bạn có thể nộp đơn vay tiền từ chính phủ, giúp hỗ trợ sinh sống để có thể học toàn thời gian.
- Con nít dưới 18 tuổi, người già trên 65 tuổi được trợ cấp y tế toàn phần của chính phủ (medicaid), và còn có thể xin thêm được food stamps (trợ cấp thực phẩm).
- Những người trên 18 tuổi hoặc dưới 65 tuổi, thu nhập thấp sẽ xin được trợ cấp y tế bán phần của chính phủ, như ở Texas có chương trình Gold card mà người Việt mình hay gọi là thẻ vàng. Mỗi tiểu bang có những chương trình và tên gọi khác nhau. (Những người mới nhập cư, hầu hết đủ điều kiện được hưởng vì chưa có thu nhập).
Người bảo trợ, hoặc cho gia đình bạn ở tạm nhà họ một thời gian ngắn cho đỡ tốn kém, hoặc tìm mướn dùm bạn một căn nhà (mắc rẻ tùy theo khả năng) và từ đây sẽ bắt đầu hành trình gian khổ, tự túc tự cường của chính bạn.
Nếu bạn có vốn mang theo, có tiền sống một thời gian không đến nỗi quẫn bách, thì lúc này bạn nên tranh thủ học tiếng Anh, cho dù không cần nhiều, nhưng ít nhất nghe được, nói được chút ít để kiếm việc làm, vì chẳng lẽ họ mướn bạn vào làm, còn phải mướn thêm người thông dịch?
Một điều cấp bách khác là phải học lái xe. Nhờ người thân kiếm mua một chiếc xe, mới cũ mắc rẻ tùy khả năng. Đây là chuyện bắt buộc (nếu không có tiền, bạn cũng phải thương lượng với người thân để hỏi mượn, sau này sẽ hoàn trả). Quỹ thời gian ở nước ngoài rất eo hẹp, không ai có thể đưa đón bạn mỗi ngày đi và về.
Ngôn ngữ và chiếc xe là chìa khoá mở đầu cho cuộc sống, ngày nào còn chưa có hai thứ này thì bạn sẽ còn bế tắc.
Trường hợp bạn không có tiền mang theo, nghĩa là vô sản, thì không thể chần chờ. Bạn phải chấp nhận bất cứ việc làm nào (đương nhiên là lương thiện), dù là những việc làm tay chân nặng nhọc, những việc không cần chất xám, để kiếm tiền trang trải cuộc sống gia đình.
Người bảo trợ, họ có thể tự nguyện giúp bạn thời gian đầu trong khả năng, nhưng họ không có bổn phận phải nuôi bạn và gia đình bạn. Hoặc dù họ có muốn, đôi khi cũng không đủ khả năng, vì số phí này không phải là con số nhỏ.
Còn việc làm ở xứ người trong trường hợp bạn là người mới ở đất nước này sẽ như thế nào? Cũng không khó hiểu, này nhé:
Cứ tưởng tượng, một người mới nhập cư đi xin việc làm: không nói, không nghe được chủ muốn nói gì, kinh nghiệm nghề nghiệp không có, đôi khi cũng đã có tuổi, sức khoẻ không còn sung mãn... Tất cả là con số không, không khác đứa bé còn đang chập chững tập đi, thì bạn sẽ làm được những gì, ngoài những việc không ai muốn làm mới tới tay mình.
Vậy thì sao? Có hai trường hợp:
1. Bạn là người năng động, tự tin:
Tôi chấp nhận vì tôi biết, với tôi đây chỉ là tạm thời. Một thời gian nữa, khi quen cuộc sống ở đây, rành đường xá, tiếng Anh giỏi, tôi sẽ tìm một việc làm khá hơn, hợp với khả năng hơn.
Với tôi, đều quan trọng hơn cả là môi trường, điều kiện sống tốt cho tương lai, sự phát triển của các con. Tôi tin với khả năng của mình, tôi chấp nhận dấn thân.
2. Bạn không chấp nhận được thực tại:
- Lỡ ôm một ảo mộng thiên đường.
- Từng nghe cuộc sống bên Mỹ vất vả, mà không hình dung được tới mức này.
- Ở Việt Nam tôi sướng gấp mấy lần, công việc cũ nhàn hạ, có nhân viên, tội gì. Tiếng là qua Mỹ mà tôi phải làm những chuyện nặng nhọc, như làm tiệm phở, làm chợ, giữ con nít.
- Nhìn chung quanh, thấy người qua trước giàu có, trong khi tôi phải làm việc tay chân như thế này, thật là mất mặt, biết vậy tôi không đi.
Hay thậm chí có bạn nằng nặc đòi quay về Việt Nam! Đó là những trường hợp tôi thấy đang xảy ra rất nhiều.
Mỗi lần quyết định đi hay ở đều không phải chuyện đơn giản. Ngoài chuyện tốn kém tiền bạc, thời giờ, còn có nỗ lực tình cảm của nhiều người thân. Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, tôi chỉ có mục đích phần nào giúp cho bạn hiểu rõ con đường trước mặt, để có một quyết định sáng suốt nhất.
Những người Việt tha hương từ nhiều năm trước, họ không có chọn lựa nên dù thế nào cũng cắn răng dấn thân, kiên quyết đạp đổ mọi trở ngại. Nhờ vậy, có thể nói gian khổ họ trải qua, nhất là tinh thần, gấp vạn lần hoàn cảnh hiện tại của các bạn, nhưng họ đã vượt qua và thành công.
Còn hiện tại, bạn có lợi thế hơn nhiều. Bạn có người thân bên cạnh hướng dẫn trong cuộc sống mới, có chút tiền mang theo. Cộng đồng Việt Nam hải ngoại đã vững mạnh. Về tinh thần, bớt được nhiều cảm giác bơ vơ lạc lõng. Tuy nhiên, thời nào cũng có những việc bạn phải tự làm. Đó là nỗ lực phấn đấu, việc này không ai có thể làm thay thế bạn được.
Tôi hy vọng những thành quả giàu sang của người đi trước sẽ là động lực cho bạn dấn thân, chứ đừng lấy đó so sánh, phân bì để rồi thay vì dấn thân tiến bước, bạn trở thành thất chí, than thân trách phận, dùng ánh mắt cay đắng nhìn đời.
Tôi đã chứng kiến không ít người là nạn nhân của nhân sinh quan sai lầm này. Hãy nhớ những người thành công hiện giờ, họ cũng phải trải qua một thời gian dài phấn đấu, không khác gì bạn bây giờ. Hay có khi còn khổ hơn bạn bây giờ nữa.
Còn nếu bạn đọc xong bài viết này, đã có chút khái niệm, thấy rằng hoàn cảnh mình ở Việt Nam tốt hơn, thì tôi khuyên bạn nên ở lại nước mình, đừng đi làm chi cho phí thì giờ, tốn tiền và tốn công người bảo trợ.
Nước Mỹ chưa bao giờ tự phong đất nước này là thiên đường, chỉ là từ những cảm nhận của một đại đa số nào đó, ưu ái mến tặng cho nó mà thôi. Thiên đường hay địa ngục là do từng trường hợp cá nhân, đừng thần thánh hoá quá, để rồi thất vọng.
Theo quan điểm của riêng tôi, đất Mỹ không là thiên đường một cách huyễn hoặc, xa xôi. Đất Mỹ cũng có ưu, có khuyết, và nhiều mặt tầm thường như mọi nước khác. Có đều tôi có thể khẳng định, nơi chốn này cho bạn và nhất là giới trẻ rất nhiều cơ hội để tiến thân. Chỉ là bạn có chịu nắm lấy hay không mà thôi!
Tôi biết bài viết này chỉ đúng trong một phạm vi nhỏ nào đó, không phản ánh được tất cả. Nếu không phải trong trường hợp mình, cứ xem như đọc một chuyện tầm phào. Cám ơn bạn.
Quinhon11

Đại học ở Mỹ khác Việt Nam như thế nào?

Thứ ba, 28/12/2010, 16:11 GMT+7
Ảnh minh họa google.

Có thể nói rằng sự khác nhau giữa giáo dục đại học ở Mỹ và Việt Nam bắt nguồn từ sự khác nhau giữa chủ nghĩa cá nhân có nguồn gốc từ châu Âu trong văn hóa Mỹ và chủ nghĩa tập thể ảnh hưởng từ đạo Khổng Nho trong văn hóa Việt.

So với tổng số khoảng 4,7 triệu học sinh phổ thông và sinh viên các trường Đại học và Cao Đẳng ở nước ta hiện nay thì số lượng khoảng 60.000 du học sinh Việt Nam tại các cơ sở đào tạo nước ngoài (trong đó ở Australia có 15.000, ở Mỹ có 13.000, và ở Pháp có 7.000) chỉ chiếm một tỉ lệ khá thấp. Mỹ là nước thứ hai trên thế giới có số du học sinh Việt Nam theo học nhiều nhất. Năm 2009, Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ 9 trên thế giới về số lượng du học sinh tại Mỹ.
1. Hệ thống giáo dục đại học ở Mỹ dân chủ và tiên tiến bậc nhất trên thế giới. Tôi có những buổi học 4 môn liên tục từ 11 giờ trưa tới 5 giờ chiều mà chỉ được nghỉ 15 phút để chạy từ giảng đường này sang giảng đường khác, ăn đồ ăn nhanh ở trong lớp thường là giải pháp cho các bữa trưa của tôi. Không những được phép ăn uống, mà tôi còn có thể nhắn tin bằng di động hay dùng máy tính xách tay trong lớp. Không có chuyện giáo sư gọi sinh viên trả lời như một điều trừng phạt khi sinh viên đang suy nghĩ đâu đó. Sinh viên chúng tôi được tranh luận thẳng thắn mà không bị đánh giá thái độ mỗi khi phản bác ý kiến của thầy cô.
Một điều hết sức bình thường ở Mỹ là giáo sư vui vẻ cảm ơn mỗi khi sinh viên chỉ ra điểm sai trong bài giảng. Tôi thậm chí có lần còn được cộng điểm vì chỉ ra được những lỗi như thế. Thế mới hiểu tại sao sinh viên Mỹ có phong cách rất tự tin, vì họ nhận được sự khuyến khích thực sự từ các thầy cô mỗi khi phát biểu, ngay cả việc yêu cầu giáo sư nhắc lại câu vừa mới nói. Ngoài giờ học chính thức, các giáo sư thường dành khoảng 2- 4 tiếng mỗi tuần để sinh viên có thể dễ dàng tới trao đổi hay giải đáp thắc mắc ở văn phòng riêng của họ. Sinh viên cũng có thể học qua gia sư của từng môn học. Đây là những bạn học sinh giỏi của các lớp trước được nhà trường thuê và trả lương khoảng $9/giờ, 10 giờ một tuần.
Một điều khác làm cho nhiều du học sinh bỡ ngỡ đó là không có sự phân biệt về tuổi tác trong lớp học. Tôi có cậu bạn học cùng lớp tiếng Anh trong kỳ đầu tiên 28 tuổi và có những bạn trong lớp năm thứ ba nếu so về số tuổi có lẽ nhiều gấp đôi của tôi. Ngay cả học sinh cấp ba ở Mỹ cũng không tuân theo chuẩn mực đứng lên chào khi thầy cô bước vào và ra khỏi lớp. Sinh viên được nhận kết quả thi tuyệt đối riêng tư. Nếu không hỏi nhau thì bạn bè không ai biết kết quả của ai. Việc học là cho mình chứ không phải học vì nỗi sợ bị bạn bè đánh giá. Ở Mỹ, phụ huynh chỉ có quyền biết điểm của con mình nếu như họ là người đóng tiền học cho con họ.

2. Chương trình học ở đại học Mỹ linh hoạt hơn ở ta. Sinh viên được chọn môn, chọn thầy, và chọn giờ học theo ý mình. Tôi có một cô bạn nhà ở cách trường một tiếng lái xe nên học dồn tất cả các lớp học vào ba ngày đầu tuần. Tôi đã từng bất ngờ khi cô giáo hỏi có những ai đi làm thêm trong giảng đường hơn 200 sinh viên năm thứ nhất, thì có tới 3/4 lớp tôi giơ tay lên. Thậm chí, tôi có cô bạn vừa đi học 5 môn một kỳ vừa đi làm 32 tiếng một tuần.
Mặc dù học sinh phải đăng ký ngành học ngay từ khi vào trường, nhưng sinh viên có thể thay đổi ngành học trong hai năm đầu mà hầu như không ảnh hưởng đến thời gian tốt nghiệp. Sinh viên chọn ngành Văn học vẫn có thể chuyển sang nghành Kiểm toán chẳng hạn. Trong 2 năm đầu tiên, hầu hết chương trình của các ngành đều giống nhau. Tất cả sinh viên bất kể chuyên ngành nào, dù Kiểm toán hay Văn học, đều phải hoàn tất chương trình cơ bản trong hai năm đầu với nhiều môn trên nhiều lĩnh vực, từ khoa học tự nhiên (Toán, Lý, Hóa, Sinh), khoa học xã hội (Lịch sử, Xã hội học, Chính trị), Tiếng Anh (học lối viết trong nghiên cứu), đến các lớp như Âm nhạc hay Sân khấu. Đương nhiên là sinh viên được quyền chọn môn học mình yêu thích trong số những nhóm môn ấy. Chương trình đại học được thiết kế trong vòng 4 năm, nhưng vì học theo tín chỉ nên sinh viên có thể học nhiều lớp trong hai kỳ chính cũng như có thể học cả ba kỳ hè để rút ngắn thời gian học.
3. Về cách dạy ở trường đại học Mỹ, không bao giờ có tình trạng thầy đọc trò chép. Thầy cô trình chiếu bài giảng hoặc phát bài rồi nói về những vấn đề đó. Những điều cần giải thích thêm thầy cô mới ghi lên bảng. Sinh viên có thể lên website của thầy cô xem lại bài trình chiếu để bổ trợ trong quá trình tự học. Thời khóa biểu được phát đầu kỳ, và các bài giảng cứ thế răm rắp tuân thủ theo từ tuần đầu tiên đến tuần cuối cùng. Và đặc biệt các giáo sư rất đúng giờ, hầu như họ đều vào lớp trước giờ học, khó có thể tìm được buổi học nào mà thầy cô lên lớp muộn, dù là chỉ một phút.
4. Điều khác biệt nữa là cách thức đánh giá sinh viên. Ở Mỹ trong một kỳ, một sinh viên thông thường học 5 môn. Mỗi môn có từ 3 đến 6 bài kiểm tra, với phần trăm điểm được phân bố. Kỳ vừa rồi với 5 lớp học, tuần nào tôi cũng có ít nhất một bài kiểm tra như thế, có tuần có tới 4 bài kiểm tra, bài viết phải nộp, và bài thuyết trình trên lớp. Còn ở Việt Nam, nếu như không có kiểm tra giữa kỳ thì chỉ có duy nhất một bài kiểm tra cuối kỳ. Như vậy là sinh viên ở Mỹ phải học liên tục, chứ không như ở Việt Nam, lịch thi tạo điều kiện cho sinh viên có thể thong dong đầu kỳ rồi cuối kỳ học gấp rút trong vài ba ngày cho bài thi cuối kỳ rồi cũng xong. Và tất nhiên, kiến thức được xây dựng từ bài cơ bản đến bài nâng cao như mưa dầm thấm đất, sinh viên sẽ nắm được vấn đề một cách chắc chắn.
Hơn nữa, ngoài các bài kiểm tra, có môn tôi còn phải làm bài trắc nghiệm trong vòng 15 phút trên mạng hàng tuần. Hay có lớp cứ hai tuần có một bài về nhà trên mạng, tôi lại phải dành ra khoảng 4 tiếng để hoàn thành 30-50 câu hỏi trắc nghiệm. Học ở Mỹ, tôi phải viết rất nhiều. Nhiều khi tôi phải tự tìm chủ đề và tìm tài liệu tham khảo trong thư viện. Có những bài dài đến gần 30 trang. Đặc biệt, sinh viên có thể bị đánh trượt nếu phạm lỗi đạo văn, dù chỉ là lỗi sao chép trong một bài luận.
5. Ở Mỹ mỗi trường đại học có cả hàng chục đến cả trăm hội sinh viên chứ không phải mỗi trường chỉ có một vài hội sinh viên như ở Việt Nam. Nếu sinh viên muốn tham gia tình nguyện thì có thể tham gia chương trình tình nguyện của rất nhiều câu lạc bộ sinh viên. Có câu lạc bộ về chuyên nghành (như Tài chính, Kiểm toán, Kinh tế học, Hóa học, Công nghệ thông tin), về văn hóa (hội sinh viên các quốc gia và vùng lãnh thổ), hay về giải trí (Nhiếp ảnh, Bóng bàn, Cờ vua). Bên cạnh đó có rất nhiều lớp học ngoại khóa (Yoga, nhảy Latin).
Hoạt động của các câu lạc bộ trong trường đại học Mỹ rất năng động. Tham gia hoạt động ngoại khóa giúp tôi học hỏi nhiều điều trong cách giao tiếp. Năm ngoái, tôi từng được gặp thị trưởng thành phố tôi đang học trong một buổi trò chuyện do hội sinh viên nghành Tài chính của trường tổ chức. Mới cách đây 2 tuần, tôi lại cùng với thành viên hội này được đến thăm quan chi nhánh ngân hàng Frost National Bank ở trung tâm thành phố của tôi. Trong buổi đó, chúng tôi được giao lưu với chủ tịch, phó chủ tịch, cũng như nhiều trưởng các bộ phận trong ngân hàng như đầu tư, tín dụng, và quỹ. Thậm chí, sau khi qua hai lớp cửa an toàn, những sinh viên chúng tôi còn được tận mắt nhìn thấy kho tiền của ngân hàng.
Nói thêm về chuyến tham quan này, tôi là thành viên trong ban quản trị của hội và là người chịu trách nhiệm tổ chức buổi thăm quan này. Một lần tình cờ khi nói chuyện với giáo sư, tôi đề đạt nguyện vọng của hội muốn tìm hiểu cách thức hoạt động của một ngân hàng trong thành phố, thầy tôi vui vẻ mở facebook của thầy và gửi tin nhắn cho một sinh viên cũ của thầy đang làm việc tại ngân hàng. Vài tuần sau đó, sau cuộc gọi điện của thầy tôi, chỉ hai ngày sau anh sinh viên cũ gửi chương trình buổi thăm quan kèm theo ngày giờ cụ thể qua thư điện tử cho tôi. Sự nhiệt tình của thầy tôi, tinh thần trách nhiệm của anh sinh viên cũ của thầy, và sự thân thiện của các nhân viên trong ngân hàng đã khiến tôi, một sinh viên quốc tế, không khỏi ngỡ ngàng.
Sau chuyến thăm quan ngân hàng Frost National Bank, hãy cùng tôi ngẫm nghĩ phép so sánh nho nhỏ sau: công ty có vốn hóa lớn nhất trên sàn chứng khoán Việt Nam hiện nay là ngân hàng Vietcombank có tổng tài sản (12,7 tỷ USD) chỉ bằng khoảng 2/3 tổng tài sản của ngân hàng Frost National Bank (17,7 tỷ USD) - ngân hàng lớn nhất ở tiểu bang Texas, Mỹ. Chúng ta đi sau cả về kinh tế và giáo dục. Như một quy luật trong cuộc thi chạy đường trường, một khi ta xuất phát sau thì ta phải tăng tốc, và tốc độ phải nhanh hơn đối thủ đằng trước thì ta mới có cơ về đích trước.
Được tiếp cận với nền giáo dục chất lượng cao ở Mỹ như vậy, liệu sẽ có bao nhiêu du học sinh dũng cảm quay về Việt Nam sau khi tốt nghiệp, áp dụng những kiến thức tiên tiến vào tình hình riêng của nước ta, để nghĩ lớn và làm lớn?
Hoàng Thị Hồng Nhung
(Tháng 12 năm 2010)